Sunday, July 11, 2021

Những bài học từ nhà văn Ernest Hemingway quen mà lạ

 Lê Quỳnh, BBC News Tiếng Việt

10 tháng 7 2021

60 năm sau ngày ông tự sát, Ernest Hemingway (1899-1961) vẫn còn được nhớ đến với không ít ý kiến trái chiều về di sản nghệ thuật và con người nhà văn.

Đằng sau gương mặt đầy thu hút, Hemingway phải đối mặt với cuộc chiến suốt đời chống lại chứng trầm cảm, nghiện rượu và các vấn đề sức khỏe tâm thần, tất cả góp phần dẫn đến cái chết của ông bằng cách tự sát vào ngày 2 tháng 7 năm 1961.

Đầu năm nay một bộ phim tài liệu dài sáu giờ, của Ken Burns và Lynn Novick (những người trước đó làm loạt phim The Vietnam War), đã ra mắt, về nhà văn Hemingway.

Ken Burns nói: "Ông là một người đàn ông bị dằn vặt vì nhiều thứ. Tiền sử bệnh tâm thần trong gia đình, tự tử trong gia đình, rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) từ Thế chiến thứ nhất và các tình huống khác, một loạt chấn thương sọ não trong suốt cuộc đời, nghiện rượu, tự dùng thuốc cần thiết để sống tiếp."

Không chỉ Hemingway phải chịu đựng, mà nhiều thế hệ của gia đình ông đều đối mặt với những vấn đề tương tự, và một trong những cháu gái của ông gọi là "lời nguyền Hemingway." Ông là một trong năm người tự tử trong ba thế hệ của gia đình Hemingway.

Ernest Hemingway sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899, tại Cicero (nay là Oak Park), Illinois, là con thứ hai trong gia đình có sáu người con.

Bố mẹ ông là Clarence "Ed" Hemingway và Grace.

Ed là một bác sĩ thành đạt còn bà Grace là một cựu ca sĩ và giáo viên dạy nhạc.

Phần lớn thời thơ ấu của ông bị chia cắt giữa ngôi nhà của gia đình ở Oak Park, Illinois và một ngôi nhà trong rừng ở Michigan, nơi Ed truyền lại tình yêu săn bắn và hoạt động ngoài trời cho con trai. Nhưng Hemingway có mối quan hệ sóng gió với cha mình, người mặc dù vẻ ngoài điềm tĩnh nhưng có thể là một kẻ bạo lực, độc đoán.

Hemingway cũng có một mối quan hệ căng thẳng với mẹ mình. Khi Hemingway còn là một đứa trẻ, mẹ thường mặc quần áo cho cậu và chị gái như một cặp song sinh.

Người vợ thứ ba của Hemingway, nhà báo Martha Gellhorn, sau này quy kết những khó khăn của Hemingway với phụ nữ, bao gồm cả sự không chung thủy, tàn nhẫn và bỏ rơi, là do mối quan hệ của ông với Grace. 

Hành trình xê dịch

Hemingway rời nhà khi còn là một thiếu niên, trở thành phóng viên của Kansas City Star trong sáu tháng.

Năm 1917, Hemingway nộp đơn đăng ký nghĩa vụ quân sự cho Thế chiến thứ Nhất. Tuy nhiên, ông đã bị từ chối vì thị lực kém. Thành ra ông đăng ký với một đơn vị cứu thương tình nguyện của Hội Chữ thập đỏ, và chuyển đến Ý vào tháng 5 năm 1918.

Tháng 7 năm đó, Hemingway đã bị trúng đạn súng cối khi đang giao hàng tiếp tế cho các binh sĩ trên tiền tuyến. Anh tiếp tục công việc để đưa lính Ý đến nơi an toàn, và chính phủ Ý đã trao tặng anh Huy chương Bạc Dũng cảm.

Hemingway đã nằm trong bệnh viện ở Milan để hồi phục. Tại đây, anh gặp và yêu nữ y tá Agnes von Kurowsky.

Đạo diễn phim tài liệu mới ra gần đây về Hemingway, Ken Burns, nói trong một phỏng vấn: "Ông suýt chết, nằm viện hàng tháng trời, vừa tự hào về điều đó, nhưng cũng ám ảnh vì nó."

Chàng trai trở về Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1919, tưởng rằng Agnes sẽ theo cùng, nhưng cô đã chọn một người đàn ông khác.

Sự từ chối của cô đã ảnh hưởng đến một số tác phẩm của ông, bao gồm cả cuốn tiểu thuyết Giã từ vũ khí (1929).

Trở về Mỹ, ông kết hôn với người vợ đầu tiên, Hadley Richardson. Họ có một con trai, Jack, vào năm 1923.

Năm 1921, Hemingway nhận công việc phóng viên nước ngoài cho The Toronto Star, sau đó ông và Hadley chuyển đến Paris.

Nhiều nhà văn và trí thức Mỹ sống trong khu phố Montparnasse, bao gồm Gertrude Stein, F. Scott Fitzgerald, và Ezra Pound. Họ chia sẻ sự thất vọng khiến Gertrude Stein gọi họ là "Thế hệ đã mất". Hemingway sẽ miêu tả họ trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên Mặt trời vẫn mọc (1926).

Nhưng tính khí thất thường của Hemingway, dẫn đến xung đột với người vợ Richardson và bạn bè.

Văn phong độc đáo

Văn phong của ông là một cuộc cách mạng. Các nhà văn tại Việt Nam thường nhắc tới nguyên lý Tảng băng trôi" (Iceberg Theory) của Hemingway. Đó là sự kiệm lời, hàm súc trong câu chữ, và nhà văn không công khai phát ngôn ý tưởng của mình mà xây dựng hình tượng có sức gợi mở cho độc giả.

Đạo diễn Ken Burns nhận xét: "Sẽ có những thăng trầm và ông ấy sẽ bị từ chối vì những nguyên do có thể là nghệ thuật hoặc văn học, nhưng ông sẽ tồn tại vì tác phẩm quá tuyệt vời."

Đầu năm 1926, Hemingway bắt đầu ngoại tình với nhà báo Pauline Pfeiffer, và nhanh chóng ly hôn với Richardson. Hemingway và Pauline kết hôn vào tháng 5 năm 1927.

Vào tháng 12 năm 1928, khi Hemingway 29 tuổi, cha ông đã tự sát, tự bắn mình bằng khẩu súng lục của gia đình sau một thời gian dài gặp khó khăn.

Hemingway vô cùng chấn động trước cái chết của cha, mà phần lớn ông đổ lỗi cho mẹ mình.

Ông cũng hư cấu các sự kiện trong cuốn tiểu thuyết năm 1940, Chuông nguyện hồn ai, trong đó cha của nhân vật chính tự sát theo cách tương tự.

Ông trở lại Tây Ban Nha một thời gian ngắn để nghiên cứu về đấu bò tót cho tác phẩm Chết vào buổi chiều (1932). Năm 1933, Hemingway và Pauline đi săn ở Đông Phi, nơi truyền cảm hứng cho một tác phẩm, Đồi xanh của Châu Phi (1935).

Hemingway đảm nhận vị trí phóng viên chiến trường ở Tây Ban Nha vào năm 1937, nơi ông đưa tin về Nội chiến Tây Ban Nha. Tại đây, ông gặp nhà báo đồng nghiệp Martha Gellhorn, người sẽ trở thành vợ thứ ba của ông vào năm 1940.

Năm 1940, Hemingway mua một ngôi nhà ở Cuba, và mặc dù ông tiếp tục đi khắp thế giới, nhưng đây sẽ là nơi ở chính của ông trong 20 năm tiếp theo.

Kinh nghiệm của ông về cuộc chiến đã dẫn đến việc ông viết Chuông nguyện hồn ai (1940).

Hemingway lại trở thành phóng viên nước ngoài trong Thế chiến thứ hai. Trong khi làm nhiệm vụ, ông đã gặp và yêu nhà báo Mary Welsh và kết hôn vào năm 1946.

Ông xuất bản tác phẩm tiểu thuyết lớn cuối cùng của mình, Ông già và biển cả, vào năm 1952, đoạt giải Pulitzer năm 1953 và giải Nobel Văn học năm 1954.

Cùng năm đó, Hemingway suýt thiệt mạng sau hai vụ tai nạn máy bay khi đi du lịch ở châu Phi.

Tai nạn khiến sức khỏe thể chất và tinh thần của ông suy giảm nghiêm trọng.

Khi ông và người vợ thứ tư, Mary Welsh, trở lại Cuba vào năm 1957, ông bắt đầu viết hồi ký về những năm đầu của ông ở Paris.

Nhưng ông đã phải vật lộn để hoàn thành tác phẩm, và sự thất vọng càng làm nhà văn trầm cảm thêm.

Khi tình hình chính trị ở Cuba trở nên tồi tệ, Hemingway và Welsh ra đi vào tháng 7 năm 1960, và trong vài tháng sau đó, Hemingway ngày càng trở nên cô lập, tin rằng mình đang bị FBI giám sát.

Vào mùa thu năm 1960, cặp đôi định cư tại một ngôi nhà mới xây ở Ketchum, Idaho.

Sự bất ổn của Hemingway ngày càng gia tăng, khi ông trở nên tin rằng mình đang trên bờ vực phá sản.

Tự sát

Ông lại phải nhập viện vào tháng 4 năm 1961 và được điều trị bằng sốc điện nhiều hơn.

Hemingway thuyết phục các bác sĩ của mình rằng ông đủ khỏe để được ra về vào cuối tháng Sáu.

Vào một buổi sáng Chủ nhật - ngày 2 tháng 7 năm 1961 - nhà văn thức dậy sớm. Ông rời khỏi phòng ngủ và đi xuống tầng hầm của ngôi nhà. Tại đó, ông mở khóa tủ súng và lấy khẩu súng yêu thích cùng một số đạn dược.

Sau khi thi thể của ông được tìm thấy, vợ ông, Mary, nói rằng đó là một tai nạn, và nhà văn nổi tiếng đang lau súng thì vô tình cướp cò. Tuy nhiên, sau này, bà thừa nhận rằng nhà văn đã tự tử.

Nguyên nhân?

Năm 2006, Tiến sĩ Christopher D. Martin, một bác sĩ tâm thần và là người hâm mộ Hemingway, đã xuất bản một nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ lịch sử sức khỏe tâm thần của Hemingway.

Tác giả nói có "bằng chứng đáng kể" cho thấy Hemingway chịu rối loạn lưỡng cực, nghiện rượu, chấn thương sọ não. Cuối đời, Hemingway cũng có các triệu chứng rối loạn tâm thần có thể liên quan đến căn bệnh tiềm ẩn, nghiện rượu và chấn thương sọ não.

Theo ông, Hemingway đã áp dụng cơ chế tự phòng vệ, bao gồm tự uống thuốc với rượu, lối sống thể thao năng nổ, chấp nhận rủi ro và ham viết lách, để đối phó với đau khổ gây ra bởi căn bệnh.

Martin cũng tìm hiểu sâu về tiền sử trầm cảm của cả cha mẹ ông, cho rằng Hemingway có thể mang khuynh hướng di truyền đối với bệnh tâm thần, cũng như sự giận dữ sâu sắc chưa được giải quyết đối với cả cha mẹ.

Trong cuốn sách Hemingway's Brain năm 2017, bác sĩ Andrew Farah lập luận rằng các triệu chứng của Hemingway gần giống với bệnh não chấn thương mãn tính (CTE) do hậu quả của nhiều chấn động nghiêm trọng trong cuộc đời. Theo Farah, Hemingway đã phải chịu ít nhất 9 lần chấn động hoặc chấn thương não nghiêm trọng.

Ông Farah nói: "Tôi đã dành toàn bộ một chương cho A Moveable Feast vì đây là tác phẩm cuối cùng của Hemingway và chắc chắn được viết trong thời điểm ông suy sụp. Tại thời điểm này, CTE và chứng mất trí nhớ hỗn hợp đã lộ rõ, và cuốn sách được in lại rất khác so với bản thảo gốc mà ông ấy để lại, vì đã được vợ ông và người biên tập tại Scribner's chỉnh sửa rất nhiều."

Tuy nhiên, một giả thuyết khác cho rằng Hemingway bị một chứng rối loạn di truyền hiếm gặp dẫn đến không thể hấp thụ sắt. Nếu không được điều trị, nó có thể dẫn đến mệt mỏi dữ dội, mất trí nhớ, trầm cảm và tiểu đường, tất cả đều ảnh hưởng đến cả Hemingway và các thành viên khác trong gia đình.

Nhưng cũng như các phỏng đoán khác về nguyên nhân gây ra sức khỏe tâm thần của Hemingway, các chuyên gia không thể chắc chắn 100%.

Chỉ 5 năm sau cái chết của Hemingway, chị gái Ursula, người phải chiến đấu với cả căn bệnh ung thư và chứng trầm cảm, qua đời do cố ý dùng thuốc quá liều.

Leicester, em trai duy nhất của Hemingway, tự bắn mình vào năm 1982, sau nhiều năm yếu đi vì các vấn đề sức khỏe bắt nguồn từ bệnh tiểu đường.

Năm 1996, vào ngày giỗ của Hemingway, cháu gái của ông là Margaux đã tự kết liễu đời mình bằng cách dùng thuốc quá liều.

Bài học

Trong một phỏng vấn, bà đạo diễn Lynn Novick nói: "Ông ấy thực sự phải chịu đựng rất nhiều cảm xúc theo những cách mà tôi sẽ không bao giờ hiểu được. Tôi cũng thấy những phần hành vi của ông thật kinh khủng, thật sự khủng khiếp. Tôi sẽ không bao giờ muốn kết hôn với ông ấy!"

Ông Ken Burns thì nói: "Huyền thoại cũng là sự thật, ông ấy yêu thiên nhiên, là một nam nhi theo nhiều cách khác nhau, là một kẻ hiếu chiến, nghiện rượu, là một ngư dân biển sâu và một thợ săn."

"Điều đằng sau thú vị hơn nhiều, dễ bị tổn thương, sự tò mò về cách suy nghĩ của phụ nữ, sự uyển chuyển về giới tính sẽ gây sốc mạnh đối với mọi người."

Burns giải thích:

"Có những truyện ngắn mà ông ấy viết cách đây 100 năm rất ấn tượng về khả năng đi vào bên trong làn da của người khác giới...Tất cả các bà vợ của ông ấy đều được yêu cầu cắt tóc và ông ấy để tóc dài và họ đảo ngược vai trò trong đời sống tình dục của họ."

Khi được hỏi người xem có thể rút ra bài học gì từ đời Hemingway, bà Lynn Novick nói:

"Ông ta có khả năng tuyệt vời biết thưởng thức cái đẹp, sống trong hiện tại, nhìn thế giới xung quanh rõ ràng, nhìn thấu những điều nhảm nhí và đạo đức giả. Ông ấy cũng có kỷ luật đáng kinh ngạc. Dù gặp thách thức, ông ấy đã cố gắng làm việc mỗi ngày."

"Mặt khác, ông quá khao khát danh tiếng và khao khát được công nhận đến nỗi nó đã trở thành một nhà tù. Hình ảnh bản thân mà ông ấy thể hiện, được bao quanh bởi những người muốn gần bạn vì bạn nổi tiếng. Đó là một sự tồn tại trống rỗng. Ông ấy đã trả giá cho điều đó."

Source:

https://www.bbc.com/vietnamese/world-57787197

 

 

 



Tuesday, July 6, 2021

Why Walt Whitman Called America the ‘Greatest Poem’

The 19th-century writer believed that the power of poetry and democracy came from an ability to make a unified whole out of disparate parts.

Shocked at the election of their next president, many Americans at the end of 2016 turned to social media, petitions, polls, and the streets in protest. A century and a half ago, shocked at the assassination of the sitting president who oversaw the reunification of a divided nation, Walt Whitman turned to poetry. In “O Captain! My Captain!”, Whitman famously eulogized Abraham Lincoln as the fallen leader of the great ship of America, which he called a “vessel grim and daring.”

But for Whitman, poetry wasn’t just a vehicle for expressing political lament; it was also a political force in itself. In his preface to the first edition of Leaves of Grass (1855), Whitman claimed of the United States, “Their Presidents shall not be their common referee so much as their poets shall,” echoing Percy Bysshe Shelley’s famous dictum in 1840’s Defence of Poetry: “Poets are the unacknowledged legislators of the world.” Shelley was referring to the role that art and culture play in shaping the desires and will of people, which eventually come to be reflected in the law. But Whitman went even further in his preface. “The Americans of all nations at any time upon the earth have probably the fullest poetical nature,” he wrote. “The United States themselves are essentially the greatest poem.” Whitman’s claim stemmed from a belief that both poetry and democracy derive their power from their ability to create a unified whole out of disparate parts—a notion that is especially relevant at a time when America feels bitterly divided.

Notably, Whitman’s grammar (“the United States are”) signals his understanding of the country as a plural noun—not one uniform body, but a union of disparate parts. Whitman was centrally concerned with the American experiment in democracy and its power to produce “out of many, one,” even at as great a cost as the Civil War and the faltering Reconstruction. Whitman thus celebrates in his work the many kinds of individuals that make up a society as well as the tensions that bring individuals together in a variegated community. In “I Sing of America,” he writes,

I hear America singing, the varied carols I hear,
Those of mechanics, each one singing his as it should be blithe and strong,
The carpenter singing his as he measures his plank or beam,
The mason singing his as he makes ready for work, or leaves off work,
The boatman singing what belongs to him in his boat, the deck-hand singing on the steamboat deck ...
The delicious singing of the mother, or of the young wife at work, or of the girl sewing or washing,
Each singing what belongs to him or her and to none else …

Whitman is perhaps America’s first democratic poet. The free verse he adopts in his work reflects a newly naturalized and accessible poetic language. His overarching themes—the individual, the nation, the body, the soul, and everyday life and work—mirror the primary values of America’s founding. Then and now, his poetry is for everyone. As Whitman asserts later in the preface to Leaves of Grass:

The genius of the United States is not best or most in its executives or legislatures, nor in its ambassadors or authors or colleges or churches or parlors, nor even in its newspapers or inventors … but always most in the common people.

In his self-published first edition of Leaves of Grass, Whitman included a drawing of himself, the poet. He is wearing the loose, casual garb of the laborer. He is neither the ruffled courtly bard of a previous age, nor the tweedy and erudite Oxford author of a later age. (Successive editions depict Whitman as more urbane.) He asserts himself, at least initially, as a poet of the modern world: rude, raw, and representative of the common man.

Former Maryland Lieutenant Governor Kathleen Kennedy Townsend’s prescient words about Whitman, published in 2011 in The Atlantic, could easily have come from this year’s post-election analysis:

Today’s politicians and pundits seem to have forgotten the unemployed in their endless debates about wealth creation, capital gain reduction, and high corporate taxes. How rarely we hear about the factory worker, the contractor, the construction worker whose lives have been upended by the prolonged economic disaster … Mostly they’re forgotten and ignored.

But Whitman wouldn’t have forgotten them… He knew that the fate of each one of us is inextricably linked to the fate of all.

The notion that the fate of each one of is tied to the fate of all is the essence of democracy, and of Whitman’s poetry.

Even while staking out his place as a common man, Whitman saw for the poet a special role within democracy. In “By Blue Ontario’s Shore” (first published in 1856 but revised many times until its final version in 1867), Whitman asserts, “Of these States the poet is the equable man.” The equable person is one who both sees and acts justly. The poet does this better than the politician because, Whitman says:

[The poet] bestows on every object or quality its fit proportion, neither
more nor less,
He is the arbiter of the diverse, he is the key,
He is the equalizer of his age and land,
He supplies what wants supplying, he checks what wants checking,

In peace out of him speaks the spirit of peace, large, rich, thrifty,
building populous towns, encouraging agriculture, arts,
commerce, lighting the study of man, the soul, health,
immortality, government ….
He judges not as the judge judges but as the sun falling round a
helpless thing,
As he sees the farthest he has the most faith …
He sees eternity in men and women, he does not see men and
women as dreams or dots.

This role Whitman assigns the literary imagination in shaping the standards of judgment essential to democracy is a “startling claim,” says the American philosopher and legal scholar Martha Nussbaum. In Poetic Justice: The Literary Imagination and Public Life, Nussbaum argues that “the ability to imagine vividly, and then to assess judicially, another person’s pain, to participate in it and then to ask about its significance is a powerful way of learning what the human facts are and of acquiring a motivation to alter them.” In other words, poetry constitutes the practice of what robust pluralism requires.

A literary imagination, Nussbaum writes, “promotes habits of mind that lead toward social equality in that they contribute to the dismantling of the stereotypes that support group hatred.”  Thus, although Whitman’s racist views of blacks, shaped in part by the bad science of the day, were contradictory and at times ambivalent, his poetic vision forged a way past his own hidebound limitations toward greater justice.  In “To Foreign Lands,” Whitman claims his poems offer the world the very definition of America: “I heard that you ask’d for something to prove this puzzle the New World / And to define America, her athletic Democracy, / Therefore I send you my poems that you behold in them what you wanted.” An “athletic democracy” is made so not by politicians, Whitman claims, but by poetry. For the poetic mind is a mind attuned to justice.

In her work On Beauty and Being Just, the Harvard professor of aesthetics Elaine Scarry describes the importance of multiple viewpoints, arguments, and counterarguments to “political assembly,” wondering how “will one hear the nuances of even this debate unless one also makes oneself available to the songs of birds or poets?” The basis of poetry is precisely those connections forged between different elements, different voices, and different perspectives. In envisioning the United States as “the greatest poem,” Whitman links the essence of poetry, which is unity-within-diversity, to the essence of democracy. Within the epic poem that is America, a president is but one figure.

Karen Swallow Prior is a professor of English at Liberty University and a research fellow with the Ethics and Religious Liberty Commission of the Southern Baptist Convention. She is the author of Booked: Literature in the Soul of Me, Fierce Convictions: The Extraordinary Life of Hannah More, and On Reading Well: Finding the Good Life Through Great Literature.

Source:

https://www.theatlantic.com/entertainment/archive/2016/12/why-walt-whitman-called-the-america-the-greatest-poem/510932/