Monday, May 27, 2019

Chương IV Thời Kỳ Lãng Mạn (1820-1860) - Phần 3: Các Nữ Văn Sĩ và Những Nhà Cải Cách

                                    Các Nữ Văn Sĩ và Những Nhà Cải Cách
Phụ nữ Mỹ chịu nhiều bất công vào thế kỷ 19.  Họ không được quyền đi bầu, bị cấm không được học tại các trường đào tạo ngành nghề chuyên môn hoặc học lên cao, không được diễn thuyết trước công chúng hay tham dự các hội thảo công cộng, và không được sở hữu nhà đất.  Dù có những chướng ngại khó khăn như thế, một mạng lưới liên kết phụ nữ mạnh mẽ đã xuất hiện.  Qua thư từ, bạn bè của từng cá nhân, qua những buổi họp nghiêm túc, qua báo chí của phụ nữ, và sách vở, phụ nữ đã thúc đẩy cải cách nhằm thay đổi xã hội.  Các phụ nữ trí thức đã vạch ra điểm tương tự giữa phụ nữ và nô lệ.  Một cách can đảm họ đòi hỏi phải có những cải cách triệt để như bãi bỏ chế độ nô lệ, công nhận quyền đi bầu cho giới phụ nữ, mặc dù gặp phải sự chống đối tẩy chay dữ dội của xã hội và có khi bị kiệt quệ về tài chánh cần để tiếp tục cuộc đấu tranh.  Các tác phẩm của những người phụ nữ này là tiếng nói tiền phong của giới trí thức về truyền thống văn học phụ nữ rộng lớn hơn gồm cả loại tiểu thuyết tình cảm ̣(sentimental novel) . Tiểu thuyết tình cảm của các nữ sĩ, như quyển Căn Chòi Của Chú Tom của Harriet Beecher Stowe, rất được yêu chuộng.  Những tiểu thuyết như thế làm độc giả  xúc động, và thường kịch tính hóa các vấn đề xã hội gây tranh luận, nhất là những vấn đề về vai trò và trách nhiệm của phụ nữ và gia đình.

Nhà cải cách chống chế độ nô lệ Lydia Child (1802-1880), người có ảnh hưởng lớn đối với Margaret Fuller, là người lãnh đạo mạng lưới nối kết phụ nữ.  Tiểu thuyết thành công của bà quyển Hobomok (1824) cho thấy cần thiết phải có tinh thần khoan dung cởi mở về chủng tộc và tôn giáo.  Bối cảnh của quyển tiểu thuyết là vùng Salem thời Thanh giáo, tiểu bang Massachusetts, đã báo trước sự xuất hiệ̣n của nhà văn Nathaniel Hawthorne.  Là nhà hoạt động xã hội, Child thành lập trường tư dành cho nữ sinh, ra tập san đầu tiên cho trẻ em ở Mỹ và là chủ bút báo ấy.  Năm 1833 bà xuất bản áng văn tuyên truyền chống chế độ nô lệ đầu tiên tựa đề Thỉnh Nguyện Về Việc Giúp Đỡ Tầng Lớp Người Mỹ Gọi Là Người Phi Châu.  Bài viết táo bạo này gây tai tiếng cho bà, và làm bà gặp khó khăn về tài chính. Quyển Lịch Sử Về Tình Cảnh Người Phụ Nữ Qua Nhiều Thời Đại Ở Các Nước Khác Nhau (1855) đã lý luận đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ bằng cách nêu lên các thành tích lịch sử của họ.
Angelina Grimké (1805-1879) và Sarah Grimké (1792-1873) sinh ra trong một gia đình lớn với nhiều người con giàu có, sở hữu nô lệ da đen tại vùng Charleston sang trọng, thuộc tiểu bang South Carolina.  Hai chị em bà đã dọn đến miền Bắc để đấu tranh cho người da đen và phụ nữ.  Là diễn giả cho Hội Chống Chế Độ Nô Lệ tại New York, hai bà là những diễn giả phụ nữ đầu tiên trước công chúng trong đó có cả nam giới.  Qua thư từ, các bài nghị luận và nghiên cứu, hai bà nêu lên các nét tương tự giữa việc kỳ thị về chủng tộc và về giới tính. 
Elizabeth Cady Stanton (1815-1902), một người chống chế độ nô lệ và là nhà đấu tranh cho nữ quyền, sống một thời gian tại Boston, tại đấy bà kết bạn với Lydia Child và Lucretia Mott.  Bà tổ chức Hội Nghị Đấu Tranh Cho Nữ Quyền tại Seneca Falls năm 1848.  Bà cũng thảo ra quyển Tuyên Bố Về Các Quan Điểm.  Bài “Tuyên Ngôn Độc Lập Của Nữ Giới” của bà bắt đầu với câu “nam nữ sanh ra đều bình đẳng” và bao gồm một quyết nghị đòi quyền được bỏ phiếu cho giới phụ nữ.  Cùng với Susan B. Anthony, Elizabeth Cady Stanton đã vận động cho nữ giới được quyền đầu phiếu vào những năm 1860 và 1870, và thành lập Liên Đoàn Phụ Nữ Trung Thành Với Tổ Quốc, Hội Nữ Cử Tri Toàn Quốc. Bà cũng là đồng chủ bút tuần báo Cách MạngLà Chủ tịch Hội Nữ Cử Tri trong 21 năm, bà đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cho nữ quyền.  Bà đã diễn thuyết trước công chúng tại nhiều tiểu bang, một phần để có tiền lo cho bảy người con ăn học.  
Sau khi chồng bà qua đời, bà đào sâu phân tích tình trạng bất công giữa nam nữ.  Quyển Thánh Kinh Cho Phụ Nữ (1895) của bà cho thấy cái nhìn thiên lệch coi thường phụ nữ có gốc rễ ăn sâu trong truyền thống Thiên Chúa giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo Judaism*.  Bà́ diễn thuyết về các đề tài như ly dị, nữ quyền và tôn giáo cho đến lúc bà qua đời năm 86 tuổi, sau khi bà gửi một lá thư cho tổng thống Theodore Roosevelt nhằm hổ trợ quyền đầu phiếu của phụ nữ.  Nhiều tác phẩm của bà, thoạt đầu ký tên giả, nhưng sau mang tên của chính bà, gồm ba tác phẩm viết chung với người khác tựa đề Lịch Sử Về Quyền Đầu Phiếu Của Phụ Nữ (1881-1886), và một quyển tự truyện với văn phong chân thật, dí dỏm.
--
*Judeo-Christian: các nhóm Judaism và Christianity, hoặc thường dùng để nói về các nhóm Christianity bắt nguồn từ Do THái giáo/Judaism.  Cả hai đều sử dụng Torah (sách nói về các điều luật mà Thượng Đế mặc khải cho Moses, gồm 5 quyển sách đầu tiên trong số 24 quyển của Tanakh).

Torah has a range of meanings. It can most specifically mean the first five books of the 24 books of the Tanakh, and it is usually printed with the rabbinic commentaries , or due to perceived parallels or commonalities shared values between those two religions, which has contained as part of Western culture.


Sojourner Truth (1797-1883) là đỉnh cao tính bền bỉ chịu đựng và thu hút hấp dẫn của nhóm phụ nữ đặc biệt này.  Sinh ra đã là nô lệ tại New York, khi lớn lên bà nói được tiếng Hòa lan. Bà bỏ trốn và được tự do năm 1827.  Cùng với hai đứa con trai và con gái của mình, bà được gia đình Van Wagener người Mỹ gốc Hòa lan giúp đỡ, cho bà đến ở và làm gia nhân trong nhà. Họ đã giúp bà thắng kiện để đứa con trai được trả tự do, và bà đã đổi tên theo gia đình họ.  Tự bà dấn thân làm việc cùng một giáo sĩ để cải đạo cho các gái làng chơi và đưa họ vào sống chung nhà trong môt cộng đồng tiến bộ.  Bà cải đạo với tên thánh “Sojourner Truth” bởi vì bà bắt đầu trải nghiệm những âm thanh và hình ảnh kỳ diệu, huyền bí.  Để truyền bá chân lý về các lời giảng thâm sâu này, bà đã đi rao giảng, hát thánh ca, và diễn thuyết chống chế độ nô lệ tại nhiều tiểu bang suốt ba thập kỷ.  Được Elizabeth Cady Stanton khuyến khích, bà còn vận động để phụ nữ được quyền đi bầu.  Cuộc đời bà được ghi lại trong quyển Truyện Kể Về Sojourner Truth (1850) do Olive Gilbert ghi lại và hiệu đính theo lời kể của bà.  Suốt đời bà không biết chữ, và bà nói tiếng Mỹ với giọng Hòa lan.  Người ta kể rằng khi bị tố cáo bà là đàn ông giả dạng, bà đã vạch trần ngực mình trước mặt mọi người tại một hội nghị về nữ quyền.  Khi một người đàn ông cho phụ nữ là phái yếu, câu trả lời của bà đã trở thành huyền thoại:
Tôi đã cày bừa, trồng trọt, mời bạn bè cùng ra quán, và chẳng có người đàn ông nào dẫn đầu tôi cả! Tôi chẳng phải là phụ nữ ư?  Tôi có thể làm việc và ăn nhiều (nếu còn thức ăn) bằng một người đàn ông, và chịu đựng cả roi vọt nữa đấy! Tôi chẳng phải là phụ nữ ư?  Tôi đã sanh 13 người con, và chứng kiến hầu hết những người con của tôi bị bán làm nô lệ, và khi tôi khóc nỗi đau đớn của một bà mẹ mất con, chẳng ai lắng tiếng khóc của tôi ngoài Chúa Jesus!  Tôi chẳng phải là phụ nữ ư?     
Người ta thường hay so sánh người phụ nữ hùng biện, có óc khôi hài và không hề kiêng nể ai này với các ca sĩ nhạc blues nổi danh.  Harriet Beecher Stowe và nhiều người khác đã nhìn thấy trí tuệ nơi người phụ nữ da đen với nhãn quan rộng lớn này khi bà tuyên bố: “Lạy Chúa, con có thể yêu cả người da trắng!”
Harriet Beecher Stowe (1811-1896)

Quyển tiểu thuyết Căn Chòi Của Chú Tom (tức Đời Sống Những Kẻ Khốn Khó) của Harriet Beecher Stowe là quyển sách được đọc nhiều nhất ở Mỹ vào thế kỷ 19.  Ngay từ đầu khi được đăng từng số trong tạp chí National Era (Thời Đại Quốc Gia), truyện này đã thành công ngay tức khắc.  Chỉ riêng tại Anh, truyện đã được 40 nhà xuất bản khác nhau cho ấn hành; rồi nhanh chóng được dịch sang 20 thứ tiếng, và nhận đđược lời khen của nhiều tác giả như Georges Sand ở Pháp, Heinrich Heine ở Đức, và Ivan Turgenev ở Nga.  Lời kêu gọi thống thiết trong truyện yêu cầu bãi bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ đã châm ngòi cho cuộc tranh luận kéo dài 10 năm đưa đến Nội chiến Mỹ (1861—1865).  Những lý do dẫn đến sự thành công của tác phẩm Căn Chòi Của Chú Tom rất rõ rệt.  Quyển tiểu thuyết mổ xẻ vạch trần cho thấy chế độ nô lệ là sự bất công kinh khủng ngay tại Mỹ, một quốc gia mọi người đều thừa nhận là hiện thân của dân chủ và bình đẳng cho tất cả mọi người.   

Chính Stowe là đại diện tiêu biểu cho những người Thanh giáo vùng New England ngày xưa.  Cha, anh và chồng bà đều là những mục sư và nhà cải cách nổi tiếng theo đạo Tin lành.  Stowe đã thai nghén tư tưởng chủ đề của quyển sách khi bà đang dự thánh lễ trong nhà thờ – cảnh một người ôo lệ da đen già nua rách rưới bị đánh đập. Về sau bà nói quyển sách đó do Thượng Đế gợi ý và viết.  Động lực thôi thúc bà viết chính là lòng nhiệt thành mang tính tôn giáo muốn cải cách cuộc đời làm nó trở nên thánh thiện hơn.  Thời kỳ lãng mạn đã mở ra kỷ nguyên nhân đạo.  Những giá trị đẹp đẽ của gia đình và tình yêu đã chiếm vị trí tối cao trong văn chương.  Tiểu thuyết của Stowe đã giáng một đòn chính xác vào chế độ nô lệ vì chế độ ấy đã vi phạm các giá trị ngay tại nước Mỹ.

Chú Tom, một người nô lệ và là nhân vật chính, quả thật là một vị thánh tử đạo Thiên Chúa giáo, đã dày công chuyển hóa người chủ nhân từ của mình là St, Clare, và đã cầu nguyện cho linh hồn của St. Clare khi ông lìa đời, chú đã bị giết vì bảo vệ những người phụ nữ nô lệ.  Chế độ nô lệ bị mô tả là tàn bạo không phải vì các lý do chính trị và triết học, mà chủ yếu vì nó chia rẽ gia đình, tiêu diệt tình yêu thương bình thường của cha mẹ dành cho con cái, và vì bản chất nó đi ngược lại đạo Thiên Chúa.  Những cảnh cảm động nhất trong truyện là cảnh bà mẹ nô lệ đau đớn vật vã vì không thể cứu được con mình đang gào khóc và người cha cũng bị bán cho một người chủ khác, bị tách rời khỏi gia đình.  Đây là những tội ác vi phạm cả giá trị thiêng liêng của tình yêu gia đình.
Thoạt đầu quyển tiểu thuyết của Stowe không nhằm tấn công vào miền Nam; thật ra Stowe từng đến viếng miền Nam, như người miền Nam, và bà đã mô tả miền Nam một cách rất ôn hòa. Những người chủ nô lệ miền Nam là những người tốt và họ đã đối xử tử tế với chú Tom. Bản thân St. Clare rất ghét chế độ nô lệ, và ông đã dự tính sẽ trả tự do cho tất cả nô lệ của ông.  Ngược lại, ông chủ nô lệ Simon Legree tàn bạo là người miền Bắc, và là kẻ rất hiểm ác.  Thật mỉa mai khi trong quyển tiểu thuyết tác giả có ý muốn hòa giải hai miền Nam Bắc, và cả hai miền đều bị cuốn hút vào cuộc nội chiến mười năm sau đó.  Cuối cùng những người chống chế độ nô lệ đã dùng quyển tiểu thuyết này để chống lại miền Nam.   
Harriet Jacobs (1818-1896)
Là nô lệ ở North Carolina, Harriet Jacobs được bà chủ dạy đọc và viết.  Khi bà chủ qua đời, Harriet bị bán cho một ông chủ da trắng.  Ông này tìm cách cưỡng ép cô phải quan hệ tình dục với mình.  Cô chống đối lại, rồi được một người da trắng khác thương yêu và có với cô hai đứa con.  Cô gửi con sang ở với bà của mình.  Cô đã thẳng thắn viết: “Tự dâng hiến mình cho người đỡ tủi nhục hơn là bị người cưỡng ép.” Cô bỏ trốn khỏi nhà ông chủ và phao tin đồn là cô đã trốn lên miền Bắc.
Sợ bị bắt lại, bị đánh đập và bán đi làm kiếp nô lệ lần nữa, cô đã sống ẩn núp trong gầm thượng chật chội trong căn nhà của bà mình ngay tại thị trấn có người chủ cũ trong bảy năm trời.  Cô sống  được nhờ tình thương dành cho ba đứa con mà cô thỉnh thoảng nhìn trộm thấy qua các lỗ nhỏ cô khoét trên trần nhà.  Cuối cùng côo đã trốn đước lên miền Bắc, định cư tại Rochester, New York, nơi lưu hành tờ báo chống chế độ nô lệ Bắc Đẩu của  Frederick Douglass, và gần đấy tại Seneca Falls vừa mới có một hội nghị về nữ quyền.  Tại hội nghị này, Harriet kết bạn với Amy Post, một người đấu tranh cho nữ quyền, chống lại chế độ nô lệ, và là người đã khuyến khích Harriet hãy viết tự truyện Những Biến Cố Trong Đời Cô Gái Nô Lệ xuất bản dưới tên giả Linda Brent năm 1861 do Lydia Child sửa bản thảo. Quyển sách mạnh dạn tố cáo việc bóc lột tình dục của chủ da trắng đối với phụ nữ nô lệ.  Sách của Jacobs, cũng như sách của Douglas, thuộc loại truyện kể của người nô lệ, đã có mặt từ thời thuộc địa với tác giả Olaudah Equiano.
Harriet Wilson (1807-1870)
Harriet Wilson là nhà văn Mỹ gốc Phi châu đầu tiên có tiểu thuyết xuất bản tại Mỹ với tựa đề Người Da Đen Chúng Ta: Những Phác Họa Về Cuộc Đời Một Người Da Đen Được Trả Tự Do Sống Trong Căn Nhà Hai Tầng Màu Trắng Ở Miền Bắc Cho Thấy Bóng Tối Chế Độ Nô Lệ Vẫn Còn Phủ Giăng Nơi Đây.  Quyển tiểu thuyết đã tả lại một cách sống động hiện thực cuộc hôn nhân giữa một người đàn bà da trắng và một người đản ông da đen, nó nói lên đời sống khó khăn của những gia nhân da đen phục vụ trong một gia đình Thiên Chúa giáo giàu có.  Trước đây người ta nghĩ sách này là tự truyện, nhưng ngày nay chúng ta biết rằng đấy là truyện hư cấu. 
Giống như Jacobs, Wilson không cho xuất bản sách với tên của chính mình (tựa đề Our Nig Người Da Đen Của Chúng Ta nghe thật mỉa mai), và tác phẩm của bà bị quên lãng, mãi đến gần đây mới được chú ý.  Cũng có thể nói như vậy về các tác phẩm do phụ nữ viết vào thời ấy.   Năm 1983 học giả người Mỹ đen nổi tiếng Henry Louis Gates, Jr , trong vai trò đầu đàn của dự án nghiên cứu về các tiểu thuyết của tác giả da đen, đã làm sống lại vấn đề Our Nig vào năm 1983 .
Frederick Douglass (1817-1895)
Nhà lãnh đạo phong trào chống chế độ nô lệ và nhà hùng biện da đen nổi tiếng nhất thời ấy Frederick Douglass là một nô lệ sanh ra tại một đồn điền ở Maryland.  Khi lớn lên, ông may mắn được gởi đến Baltimore là nơi tương đối có tinh thần cởi mở phóng khoáng.  Tại đây ông được học đọc và viết.  Năm 21 tuổi, ông bỏ trốn lên Massachusetts, và được một chủ bủ́t chống chế độ nô lệ tên William Lloyd Garrison giúp, ông bắt đầu diễn thuyết tại các Hội chống chế độ nô lệ.
Năm 1845 ông cho xuất bản quyển Chuyện Đời Frederick Douglass, Một Người Nô Lệ Mỹ (xuất bản lần thứ hai năm 1855, hiệu đính lại năm 1892).  Đây là quyển sách hay nhất và được nhiều người đọc nhất trong số những “truyện kể của người nô lệ.” Các truyện kể này rất nổi tiếng trong những năm nội chiến Mỹ sắp bùng nổ, và thường do những người nô lệ thất học kể lại cho những người chống chế độ nô lệ ghi và viết thành sách rồi dùng làm tài liệu tuyên truyền.  Truyện của Douglas rất sống động viết bởi một người có học, đã cung cấp  cho người đọc cái nhìn sâu sắc độc đáo về não trạng của chế độ nô lệ, cùng nỗi thống khổ nó da gây ra cho người da đen.
Truyện kể của người nô lệ là loại văn xuôi đầu tiên của người da đen ở Mỹ.  Nó giúp người da đen thực hiện nhiệm vụ khó khăn là xác lập danh tính người Mỹ đen của họ trong nước Mỹ da trắng, và nó tiếp tục gây ảnh hưởng quan trọng đối với các kỹ thuật và chủ đề viết văn của người da đen trong suốt thế kỷ 20.  Việc đi tìm danh tính riêng, lòng căm phẫn vì bị kỳ thị, và ý thức về việc phải sống đời hèn mọn, bị đại ̣đa số người da trắng xem như không có, bị săn lùng phải sống chui trốn nhủi thường gặp trong các tác phẩm của tác giả da đen thế kỷ 20 như Richard Wright, James Baldwin, Ralph Ellison, và Toni Morrison.


 

Friday, May 24, 2019

Chương IV Thời Kỳ Lãng Mạn (1820-1860)-Phần 2b:Tiểu Thuyết Của Herman Melville và Edgar Allan Poe

Herman Melville (1819-1891)
Giống như Hawthorne, Melville thuộc dòng dõi giàu có thời xưa, rồi đột ngột gia đình ông rơi vào cảnh túng thiếu khi người cha qua đời.  Mặc dù lớn lên trong một gia đình gốc quý tộc có truyền thống đầy tự hào và mặc dù ông làm việc siêng năng, Melville vẫn phải chịu cảnh nghèo khó và ông không được học lên đại học.  Năm 19 tuổi ông bắt đầu sống đời thủy thủ lênh đênh trên biển cả.  Từ kinh nghiệm bản thân ông tất nhiên quan tâm nhiều hơn đến đời sống của thủy thủ, và phần lớn các tiểu thuyết đầu tay của ông đều dựa trên những chuyến hải trình ông trải nghiệm. Qua các tác phẩm này chúng ta thấy một chàng trai trẻ Melville đầy kinh nghiệm mang tư tưởng dân chủ, căm ghét độc tài và bất công.  Tác phẩm đầu tay của ông, quyển Typee, dựa trên kinh nghiệm ông sống cùng dân trong bộ lạc Taipis hiếu khách nhưng bị gán là ăn thịt người ở quần đảo Marquesas* phía Nam Thái bình dương.  Quyển truyện ca ngợi người dân đảo và cuộc sống hài hòa cùng thiên nhiên của họ, và phê phán các nhà truyền đạo Thiên Chúa, những người Melville thấy còn kém văn minh thực sự hơn so với thổ dân ở miền đất họ đến để cải đạo.
Tác phẩm Moby Dick, tức Con Cá Voi Trắng, kiệt tác của Melville, là một trường thiên tiểu thuyết kể về chiếc tàu săn cá voi Pequod, và viên thuyền trưởng Ahab, “một kẻ vô đạo nhưng lại giống như ông thần,” chỉ vì luôn bị ám ảnh bởi tham vọng săn đuổi cho được con cá voi trắng Moby Dick mà ông đã đưa cả chiếc tàu cùng đoàn thủy thủ lao vào chỗ chết. Là một câu chuyện mạo hiểm hiện thực, tác phẩm này chứa đựng  nhiều suy tư chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về kiếp người.  Con cá voi, một biểu tượng khổng lồ, tượng trưng cho sự săn đuổi tri thức. Xuyên suốt tác phẩm thường có những đoạn mô tả và phân loại cá voi cùng kỹ nghệ săn bắt cá voi rất hiện thự sinh động, nhưng những đoạn như vậy còn mang ý nghĩa tượng trưng.  Trong Chương 15 “Cái Đầu của Giống Cá Voi Cần Săn Bắt**” người kề̉ chuyện nói rằng giống cá voi này là loài sống khổ hạnh, còn giống cá voi tinh trùng*** là giống theo phái Platon, ý nói về hai trường phái triết học cổ điển Tây phương.
---
*The Marquesas Islands: một nhóm quần đảo núi lửa của Pháp ở Nam Thái bình dương.
**Đây là giống cá voi da màu tối sẫm như màu đen mà các tàu đánh bắt cá voi mong muốn bắt được.  Giống cá này gồm ba loại đều thuộc họ cá Balaenidae, có đầu hình cung (bowhead): giống ở Bắc Đại tây dương, giống ở Bắc Thái bình dương, và giống ở miền Nam.  Chúng di chuyển chậm và sau khi bị giết chết chúng nổi trên mặt nước vì có lớp mỡ dầy .

Right whales or black whales are three species of large baleen whales of the genus Eubalaena: the North Atlantic right whale, the North Pacific right whale and the Southern right whale. They are classified in the family Balaenidae with the bowhead whale. 
The right whale got its name because it was the "right" whale to hunt—it was slow moving and floated after being killed. This mother and calf are part of the western population of North Atlantic right whales.  Southern and the two species of northern right whales live in temperate Atlantic or Pacific waters, often near the coast. Right whales were named by whalers who identified them as the “rightwhale to kill on a hunt. ... Because of their thick blubber, right whales also float accommodatingly after they have been killed.

***Sperm là cách viết ngắn của chữ spermaceti. Nguyên lúc đầu người ta tưởng chất hơi nhờn, giống như sáp, được tìm thấy trong đầu loài cá voi này là tinh dịch của nó, nên họ mới đặt tên cho giống cá này như vậy.  Vào thế kỷ 18 và 19 những người đi săn cá voi vùng New England đi tìm kiếm loài cá voi này để đánh bắt, nhằm lấy chất dầu nhờn này trong đầu của nó vì đấy là thứ dầu bôi trơn đặc biệt tốt.

The name sperm whale is a truncation of spermaceti whale. Spermaceti, originally mistakenly identified as the whales' semen, is the semi-liquid, waxy substance found within the whale's head  


In the 18th and 19th centuries, New England whalers sought out the Sperm whale for the valuable spermaceti oil, which makes an exceptionally fine lubricant.
Spermaceti (sperm oil), from which the whale derives its name, was a prime target of the whaling industry, and was sought after for use in oil lamps, lubricants, and candles. Ambergris, a solid waxy waste product sometimes present in its digestive system, is still highly valued as a fixative in perfumes, among other uses. Beachcombers look out for ambergris as flotsam.[8] Sperm whaling was a major industry in the nineteenth century, immortalised in the novel Moby Dick. The species is protected by the International Whaling Commission moratorium, and is listed as vulnerable by the International Union for Conservation of Nature.
---

Mặc dù tiểu thuyết của Melville mang tính triết học, nó cũng đầy bi thương.  Tuy rất dũng cảm anh hùng, Ahab cuối cùng cũng phải chết và bị nguyền rủa.  Thiên nhiên, dù thật đẹp, cũng dửng dưng và có thể gây ra cái chết cho con gnười.  Qua tác phẩm Moby Dick, Melville không đồng ý với tư tưởng lạc quan của Emerson khi cho rằng con người có thể hiểu thiên nhiên.  Moby Dick, con cá voi trắng khổng lồ, là một hiện hữu bí ẩn huyền hoặc phủ trùm lên toàn bộ cuốn tiểu thuyết, cũng như nó luôn là nỗi ám ảnh ngày đêm đối với Ahab.  Những sự kiện về loài cá voi và về ngành đánh bắt cá voi không giải thích gì cả về con cá Moby Dick; ngược lại, những sự kiện ấy thường mang tính tượng trưng, và mỗi sự kiện lại có mối liên hệ tiềm tàng với một sự kiện khác trong mạng lưới vũ trụ chằng chịt. Tuy vậy, ý tưởng về sự tương liên chằng chịt này (như Melville nói đến trong Chương “Sphinx”) không có nghĩa là con người có thể đọc được chân lý nơi thiên nhiên, như Emerson quan niệm.  Ẩn sau những sự kiện được Melville tích lũy trong tiểu thuyết này là một cái nhìn chúng ta khó lòng hiểu được --nhưng không hề có giải thích nào để giúp chúng ta thấy cái nhìn đó là tốt hay xấu, có nhân tính hay phi nhân tính.
Với cách nói ngụ ý bóng gió và nhìn sâu vào bên trong tâm hồn, tiểu thuyết Moby Dick quả thật rất hiện đại.  Nói khác đi, tiểu thuyết này thường nói về chính nó.  Melville hay bình luận về các tiến trình hoạt động của trí não con người như việc viết, đọc và hiểu.  Thí dụ, tác giả dành cả một chương sách khảo sát cặn kẽ, và tìm cách phân loại, nhưng lại bỏ dở dang, ông cho rằng không có gì vĩ đại có thể hoàn tất (“Hỡi Thượng Đế xin hãy giữ đừng để con hoàn thành việc gì cả.  Toàn bộ quyển sách này chỉ là một bản nháp –không, nói cho đúng nó là bản nháp của một bản nháp. Ôi Thời gian, Sức mạnh, Tiền bạc, và Lòng kiên nhẫn”).  Ý niệm về một bản thảo không hoàn hảo hay một bản nháp bị bỏ dở dang của Melville là một khái niệm đương đại của thời chúng ta.

Ahab một mực tìm cách dựng lên hình ảnh  một thế giới với những giá trị tuyệt đối, anh hùng và phi thời gian, trong đó chàng giữ vị trí cao hơn tất cả mọi thủy thủ của mình.  Thật không khôn ngoan chút nào khi chàng đòi hỏi phải có một văn bản hoàn tất, với câu trả lời.  Nhưng qua tiểu thuyết này, ta thấy không hề có văn bản hoàn tất nào cả, cũng như không hề có những câu trả lời cuối cùng, ngoại trừ cái chết.  Xuyên suốt tác phẩm đều mang âm hưởng ít nhiều của các trích dẫn trong văn học.  Ahab, tên một ông vua trong Kinh Cựu Ước mong muốn đạt được một kiến thức toàn diện, như thánh thần, kiểu nhân vật Faust*
---
*
Faust, còn gọi là Faustus, hoặc Bác sĩ Faustus, là nhân vật chính của một trong số các huyền thoại dân gian và văn học Tây phương, kể về một phù thủy hay nhà chiêm tinh bán linh hồn cho quỷ để đổi lấy kiến thức và quyền lực.
Faust, also called Faustus, or Doctor Faustus, hero of one of the most durable legends in Western folklore and literature, the story of a German necromancer or astrologer who sells his soul to the devil in exchange for knowledge and power.
https://www.britannica.com/topic/Faust-literary-character

Giống như Oedipus trong vở kịch của Sophocles đã phải trả giá thê thảm vì tri thức lầm lạc của mình, Ahab đã bị mù, bị thương nơi chân, và cuối cùng bị giết chết.  Tác phẩm Moby Dick kết thúc với chữ “mồ côi.” Ishmael, người kể chuyện, là kẻ lang thang vô định như đứa trẻ mồ côi.  Cái tên Ishmael có nguồn gốc từ sách Khải Huyền trong Kinh Cựu Ước, Ishmael là con của Abraham và Hagar (người hầu của Sarah, vợ Abraham).  Cả Ishmael và Hagar đề bị Abraham đuổi vào rừng. 
Ngoài ra cũng có những ví dụ khác nữa.  Rachel (một trong số các bà vợ của Jacob) là tên chiếc thuyền đã cứu Ishmael ở phần kết cuốn sách.  Cuối cùng, con cá voi siêu hình nhắc độc giả Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo nhớ đến câu chuyện trong Kinh Thánh kể về Jonah người đã bị các thủy thủ xem là kẻ mang điềm xấu  nên họ phải ném anh ta xuống biển.  Theo Kinh Thánh, anh ta bị một con cá thật lớn (“big fish”) nuốt, và sống trong bụng cá một thời gian, sau nhờ Thượng Đế can thiệp, anh ta được cứu thóat và trở lại đất liền.  Tìm cách trốn tránh để khỏi bị trừng phạt chỉ khiến anh ta gánh chịu thêm nhiều khổ đau hơn.
Nhiều sự kiện lịch sử khác cũng làm quyển tiểu thuyết thêm phong phú.  Chiếc tàu Pequod mang tên một bộ lạc da đỏ đã tuyệt chủng ở vùng New England; và như thế cái tên Pequod hàm ý rằng chiếc tàu trước sau cũng sẽ bị hủy diệt.  Việc săn bắt cá voi là một ngành kỹ nghệ lớn, nhất là ở vùng New England.  Nó cung cấp dầu, một nguồn năng lượng cần yếu để thắp đèn.  Do đó cá voi thật sự “thắp sáng” cả vũ trụ.  Săn cá voi còn hàm ý về chủ nghĩa bành trướng*, và có liên quan đến ý tưởng cho rằng nước Mỹ tất yếu và cần thiết phải bành trướng khắp lục địa Mỹ châu, vì ngành này đòi hỏi tàu Mỹ phải đi khắp thế giới để săn tìm cá voi (thật vậy, tiểu bang Hawaii ngày nay đã được Mỹ chiếm đóng nhằm làm căn cứ chính để tàu săn cá voi của Mỹ đáp lại lấy thêm nhiên liệu.  Các thành viên trong đoàn thủy thủ của tàu Pequod thuộc các sắc dân và tôn giáo khác nhau, điều này cho chúng ta thấy nước Mỹ có tinh thần đại đồng, và là cái nồi thập cẩm (gồm đủ các giống dân).  Sau hết, Ahab là hiện thân bi tráng của chủ nghĩa cá nhân dân chủ Mỹ.  Chàng đã khẳng định vị trí cá nhân cao quý của mình và dám đương đầu với các thế lực bên ngoài không thể ngăn chặn được của vũ trụ.  Phần kết của tiểu thuyết đã làm dịu lại tính bi thảm của sự kiện chiếc tàu bị đắm.  Xuyên suốt tác phẩm, Melville đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn và cộng đồng nhân loại đa chủng.  Sau khi chiếc tàu bị chìm, Ismael được cứu sống nhờ chiếc quan tài được người bạn thân chạm trổ, đó là ông hoàng người Polynesia Queequeg, người chuyên phóng lao nhọn để giết cá voi và có nhiều vết xâm trên người.  Những nét khắc họa nguyên sơ và đầy tính huyền thoại trên chiếc quan tài nói lên cả lịch sử của vũ trụ.  Ishmael được cứu thoát chết bởi một vật tượng trưng cho cái chết.  Truyện kết thúc với sự sống lại bắt đầu từ cái chết.

Moby Dick từng được gọi là “bản anh hùng ca về thiên nhiên” –một kịch bản tuyệt vời về tinh thần con người trong bối cảnh thiên nhiên nguyên sơ, vì nó nói lên một huyền thoại về săn bắn, chủ đề kết nạp thành viên vào nhóm, tính biểu trưng của hòn đảo Eden, cách đối xử tốt đối với các giống người mà đời sống của họ còn thuộc vào thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, và về việc đi tìm cách tái sanh lại. Đặt con người một mình giữa thiên nhiên là nét đặc thù rất Mỹ.  Nhà văn và chính trị gia người Pháp Alexis de Tocqueville đã tiên đoán trong tác phẩm Dân chủ Ở Mỹ (1835) của ông rằng chủ đề này tất yếu sẽ xuất hiện ở Mỹ như là kết quả của nền dân chủ Mỹ.
----
*Vào thế kỷ 19 người Mỹ tin vào chủ thuyết Manifest Destiny, cho rằng nước họ tất yếu và cần thiết phải bành trướng lãnh thổ khắp lục địa Mỹ châu.
Manifest Destiny is the 19th century doctrine or belief that the expansion of the US throughout the American continents was both justified and inevitable.

Những biến cố xảy đến trong tương lai cho loài người, con người bị đẩy ra khỏi xứ sở và thời đại của mình, đứng trước thiên nhiên và Thượng Đế, với những đam mê hiếm có, những hoài nghi, những đau khổ khôn lường, sẽ trở thành chủ đề chính, nếu không muốn nói là chủ đề duy nhất, của thi ca Mỹ.
Tocqueville lý luận rằng, trong một nền dân chủ, văn chương phải nói về “những điều sâu kín nằm trong bản chất phi vật chất của con người,” chứ không chỉ nói về ngoại hình, hay những khác biệt hời hợt bên ngoài như giai cấp hoặc vị trí xã hội.  Chắc chắn Moby Dick và Typee, cũng như Những Cuộc Mạo Hiểm Của Huckleberry Finn và Walden, đều phù hợp với miêu tả nói trên. Các tác phẩm này đều ca ngợi thiên nhiên và đánh đổ khuynh hướng phân chia giai cấp và văn minh thành thị.
Edgar Allan Poe (1809-1849)  
Edgar Allan Poe, một người miền Nam, cùng với Melville đều có cái nhìn siêu hình tối ám xen lẫn các yếu tố hiện thực, đùa bỡn,chế diễu.  Ông đã đưa chuyện ngắn lên tầm cao và sáng tạo ra truyện trinh thám.  Nhiều truyện của ông đã mở đường cho tiểu thuyết khoa học giả tưởng, truyện kinh dị và hoang đường rất phổ biến hiện nay.
Cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm của Poe lúc nào cũng đầy bất an.  Giống như các nhà văn lớn thuộc thế kỷ 19 ở Mỹ, Poe mồ côi từ thuở nhỏ.  Năm 1835 ông có một cuộc hôn nhân kỳ lạ với người em họ Virginia Clemm khi cô mới 14 tuổi.  Cuộc hôn nhân này được cho là nỗ lực của Poe nhằm tìm kiếm một mái ấm gia đình ổn định mà ông thiếu mất. 
Poe tin rằng kỳ lạ là yếu tố cần yếu cho cái đẹp, và những gì ông viết thường mang phong cách nước ngoài, khác hẳn Mỹ.  Truyện của ông thường nói về các nhân vật quý tộc sống về nội tâm, có số phận hẩm hiu.  Giống như những người miền Nam khác, Poe rất trân quý lý tưởng của giai cấp quý tộc.  Những nhân vật sầu thảm này hầu như không bao giờ làm việc hay giao tiếp với xã hội, thay vào đó họ chỉ biết thu mình trong các lâu đài cổ mốc meo, tăm tối, được trải thảm treo màn mang tính biểu tượng kỳ lạ, che khuất thế giới thật có ánh sáng mặt trời, cửa sổ, có tường và sàn nhà để lộ rõ.  Các căn phòng khuất sâu không người biết đến là thư viện xưa cổ, là nơi chứa những bức tranh lạ, và các đồ vật linh tinh gốc từ phương đông.  Những người quý tộc trong truyện của Poe biết chơi nhạc và đọc sách xưa, cổ điển, rồi nghiềm ngẫm về các chuyện buồn đã xảy ra, thường là cái chết của những người thân yêu.  Chủ đề chết trong lúc còn sống, nhất là bị chôn sống, hoặc người chết trở về từ huyệt mộ dưới dạng ma cà rồng thường xuất hiện trong tác phẩm của Poe như "Chôn Sớm," "Ligeia," "Thùng Rượu Amontillado," và "Sự Sụp Đổ Của Ngôi Nhà Usher."  Cõi mờ tối giữa sự sống và cái chết cùng bối cảnh Gothic trong truyện của ông khiến người đọc choáng ngợp không phải chỉ có tác dụng tô điểm thêm vào câu chuyện.  Chúng phản ánh nội tại thời thượng thái quá và đầy tính chết chóc trong tâm lý bất an của nhân vật.  Chúng chỉ là sự diễn đạt tượng trưng cho cõi vô thức, và là trọng tâm văn thuật của Poe.
Thơ của Poe, giộng như thơ của nhiều nhà thơ miền Nam, giàu chất nhạc và theo sát luật âm vận.  Bài thơ nổi tiếng nhất của ông thời ông còn sống cũng như cho đến bây giờ, là bài "Con Quạ" (1845). Trong bài thơ ma quái này, người kể chuyện bị ám ảnh không thể ngủ được đang ngồi đọc sách và thương tiếc "Lenore đã khuất bóng" vào lúc nửa đêm thì có một con quạ (loài chim sống nhờ ăn thịt xác chết đã thối rửa, và vì thế nó tượng trưng cho sự chết) đến đậu nơi cửa nhà ông và cứ cất tiếng kêu lập đi lập lại điệp khúc nổi tiếng trong bài thơ "không còn nữa."  Bài thơ kết thúc với cảnh tượng bất động khi người kể chuyện chết đột ngột như đang còn sống:

Và con Quạ, không bay vụt đi,
nó đậu ở đó, vẫn còn đậu ở đó.  
trên bức tượng bán thân xanh xao của Pallas*
ngay trên cửa phòng tôi
và đôi mắt của nó trông như mắt quỷ đang mơ mộng
và ánh đèn dầu phía trên 
đổ bóng nó xuống nền nhà
và linh hồn tôi
từ chiếc bóng ấy
nằm trôi nổi trên sàn nhà
sẽ được chấp cánh bay lên --không còn gì nữa!

----
*Pallas là tên một vị thần Titan trong huyền thoại Hy lạp.  Nữ thần Athena cũng thường được gọi tên Pallas.  Cả hai vị thần đều có liên quan đến các binh thuật dùng trong chiến tranh.

(Pallas was a Titan god in Greek mythology, son of the Titans Crius and Eurybia. He had two brothers, Astraeus and Perses, and he was married to Styx, with whom he had a number of children; Zelus, Nike, Kratos, Bia, Scylla, Fontes and Lacus. He was the Titan of warcraft; Athena or Athene, often given the epithet Pallas, is an ancient Greek goddess associated with wisdom, handicraft, and warfare, who was later syncretized with the Roman goddess Minerva.)


Các truyện ngắn của Poe –như các truyện được ̣đề cập ở trên—thường được mô tả là truyện kinh dị.  Những truyện như “Con Bò Vàng,” “Lá Thư Mất Cắp” chủ yếu là truyện dựa trên lý trí và suy luận.  Truyện kinh dị của Poe mở đường cho các tác giả Mỹ chuyên viết tiểu thuyết kinh dị như H.P. Lovecraft và Stephen King, trong khi loại truyện suy luận báo trước sự ra đời của loại truyện trinh thám của Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald. và John D. Macdonald.  Nó cũng báo trước sẽ có loại tiểu thuyết khoa học giả tưởng.  Tất cả các truyện như thế cho ta thấy Poe rất quan tâm say mê tìm hiểu nội tâm con người, và tri thức khoa học kinh khủng đã thế tục hóa nhãn quan của con người về thế giới vào thế kỷ 19.

Trong mỗi thể loại Poe đều đi sâu tìm hiểu tâm hồn con người.  Xuyên suốt các tác phẩm của ông đều tỏa sáng tri thức sâu sắc về tâm lý học. Trong truyện “Con Mèo Đen” có câu: Có đến cả trăm lần như một, ai lại chưa từng phạm tội hoặc có một hành vi ngu xuẩn nào đó, lý do chỉ vì anh ta biết rõ mình không nên làm điều đó.”  Để tìm hiểu các diễn biến tâm lý lạ lùng không hề có ở nước Mỹ, Poe tìm hiểu các chuyện kể về người điên và tình cảm cực đoan. Văn phong rất mực cẩn trọng và lời giải thích chi tiết trong truyện của Poe càng làm tăng thêm nét kinh dị với những biến cố được mô tả sống động và đầy thuyết phục.

Việc Poe biết kết hợp giữa sự suy đồi tha hóa với tình cảm lãng mạn nguyên tuyền trong tác phẩm của ông đã thu hút mạnh mẽ người Âu châu, nhất là các nhà thơ Pháp như Stéphane Mallarmé, Charles Baudelaire, Paul Valéry và Arthur Rimbaud.  Mặc dù ông ghét kiểu dân chủ của quý tộc, chuộng những gì của nước ngoài hơn Mỹ, và viết về các chủ đề về sự tha hóa của con người, Poe không phải không có phong cách Mỹ.  Ngược lại, ông như một quyển sách giáo khoa điển hình chứng minh lời tiên đoán của Toqueville rằng nền dân chủ Mỹ sẽ sản sinh những tác phẩm phơi trần các vùng sâu kín ẩn khuất nhất của tâm hồn con người.  Nỗi lo sợ ăn sâu và tâm lý bất an dường như xảy ra ở Mỹ trước cả Âu châu, vì Âu châu đã có sẵn một cấu trúc xã hội vững vàng và phức tạp làm người Âu châu được ổn định về mặt tâm lý.  Ở Mỹ con người không hề được bù đắp về mặt tâm lý; mọi người phải tự lo cho mình. Poe đã mô tả chính xác mặt trái của giấc mơ Mỹ về con người tự lập thân và cho ta thấy cái giá của chủ nghĩa vật chất và cạnh tranh thái quá, đó là nỗi cô đơn, sống cách biệt mọi người chung quanh, và những hình ảnh chết đột ngột (chết trong lúc còn sống).

Sự “suy đồi tha hóa” trong truyện của Poe cũng phản ảnh việc hạ giá trị các biểu tượng xảy ra vào thế kỷ 19 --khi người ta hay để lẫn lộn các tác phẩm nghệ thuật thuộc nhiều thời kỳ khác nhau thu thập từ các nước khác nhau, làm chúng không còn danh tính riêng nữa mà chỉ còn là các món đồ trưng bày trong bộ sưu tập của họ.  Sự hỗn loạn về phong cách đặc biệt thể hiện rất rõ tại Mỹ, một đất nước thiếu hẳn phong cách truyền thống của riêng mình.  Tình trạng hỗn độn phản ánh sự thiếu mất các hệ thống tư tưởng nhất quán chặt chẽ khi việc di dân, đô thị hóa và công nghiệp hóa làm các gia đình mất đi gốc gác và các truyền thống của mình.  Trong hội họa, sự pha trộn các biểu tượng đưa đến tình trạng quái thai, một chủ đề mà Poe đã nêu rõ trong tập truyện ngắn nổi tiếng của ông tựa đề Những Chuyện Quái Đản và Cầu Kỳ (1840).