Thursday, September 12, 2019

Chương VI- Phần 1d - Văn Học Hiện Đại và Thời Kỳ Thử Nghiệm (1914-1945)

GIỮA HAI THẾ CHIẾN
Robinson Jeffers (1887-1962)
Nhiều nhà thơ Mỹ có tầm vóc và cái nhìn chân phương đã xuất hiện giữa hai thế chiến, trong số đó có những nhà thơ ở bờ biển phía Tây, các nữ thi sĩ và thi sĩ da đen.  Giống như tiểu thuyết gia John Steinbeck,  Robinson Jeffers sống tại California, và sáng tác về những nông gia gốc Tây ban nha, về người da đỏ cùng các truyền thống pha trộn văn hóa của họ, và về vẻ đẹp quyến rũ của miền đất ấy. Được học các tác phẩm cổ điển, và đọc nhiều về Freud, ông  phóng tác lại các chủ đề trong bi kịch Hy lạp, lấy bối cảnh là bờ biển lởm chởm đá.  Ông nổi tiếng với những chuyện bi thương như Tamar (1924), Roan Stallion (1925), The Tower Beyond Tragedy (1924) — phóng tác dựa trên tác phẩm Agamemnon của Aeschylus —và Medea (1946), phỏng theo bi kịch của Euripides.
Edward Estlin Cummings (1894-1962)
Edward Estlin Cummings, thường được biết đến với tên e.e. cummings, viết những vần thơ rất lôi cuốn, mới lạ, nổi bật với nét hài hước, duyên dáng, ca ngợi tình yêu, tình dục, với kiểu chấm câu và trình bày bài thơ trên trang giấy độc đáo. Là người vẽ tranh, ông là nhà thơ Mỹ đầu tiên ý thức rằng thi ca trước hết là một nghệ thuật để ngắm nhìn chứ không phải để đọc ngâm.  Các bài thơ của ông sử dụng nhiều khoảng trống và lùi hàng chữ vào rất kỳ lạ, cũng như không viết hoa.  Giống Williams, Cummings sử dụng ngôn ngữ bình dân. Hình ảnh tinh tế, và ngôn từ của văn hóa dân gian.  Giống Williams, ông tự do sáng tạo ra cách sắp xếp bài thơ.  Bài “chỉ Trong” (1920) mời gọi người đọc điền vào các ý tưởng ông bỏ trống:

Mùa Xuân khi khắp nơi là những vũng nước long lanh,

có người cầm bong bóng đi khập khễnh

từ xa anh huýt sáo nho nhỏ

và eddiecùngbill chạy lại

bỏ trò bắn bi và giả hải tặc, và

mùa xuân đã đến…
 
Active in the twentieth century, Edward Estlin Cummings was an American poet who remains one of the most famous figures in English poetry. His poems on love and nature, and his erotic poetry are perhaps his most popular works, especially among youngsters
Năng nổ sáng tác thơ trong thế kỷ 20, Edward Estlin Cummings là nhà thơ Mỹ vẫn làmột trong số những thi sĩ nổi tiếng nhất của nền thơ ca Anh.  Những bài thơ ông viết về tình yêu và thiên nhiên cùng những bài thơ dục cảm có lẽ là những sáng tác của ông được nhiều người, nhất là giới trẻ, yêu chuộng nhất.
Cummings' poem 'in Just' is a poem about spring. In the beginning of the poem, spring is starting and the children are called outside to play. It is the start of something new. However, the poem also represents a time of innocence in children and the suggestion that there is a change, adulthood, coming to them.
The meter used in the poem in Just is free verse
Cummings calls the balloon man "lame" (4), "queer" (11), and "goat-footed" (20). Supported by the first two adjectives, “goat-footed” alludes to Greek Satyrs, particularly to Pan, half-man, half-goat, the Greek god of nature and legendary inventor of the panpipes.
Adjectives describe nouns. ... All of a sudden, "mud-luscious" is one great big adjectival phrase describing the world. It's the world that is "mud-luscious" and "puddle-wonderful."
Bài thơ “chỉ Trong” của Cummings nói về mùa xuân.  Mở đầu bài thơ, mùa xuân bắt đầu, và trẻ con được gọi ra ngoài trời chơi.  Khởi đầu một cái gì đó mới mẻ.  Tuy nhiên, bài thơ cũng tiêu biểu cho thời thơ ngây của trẻ nhỏ và gợi ý sự thay đổi, tức tuổi trưởng thành, rồi sẽ đến với những đứa trẻ.
In only twenty-four lines, E. E. Cummings captures both the feeling and the meaning of spring. Only in spring, or “just” in spring, is the world a kind of wonderful mud bath for children. Spring rains make puddles in which children love to play. Spring is a carnival season—a time to celebrate nature—which accounts for the appearance of the “balloonman,” who adds a festive air to the season.
Chỉ trong 24 hàng, E. E. Cummings đã nắm bắt được cảm xúc và ý nghĩa của mùa xuân.  Chỉ vào mùa xuân, "chỉ" trong mùa xuân thế giới mới trở thành một bồn tắm bùn cho trẻ nhỏ.  Những trận mưa xuân để lại các vũng nước đọng cho trẻ em đùa nghịch thỏa thích.  Mùa xuân là mùa hội hè --là lúc người ta ăn mừng đón thiên nhiên--vì thế mới có mặt người bán bong bóng, làm tăng thêm không khí hội hè.
The first stanza and the next line also suggest that adults spring to life “in just,” or precisely in, spring. The balloonman may be little and lame, but he is whistling and apparently happy to be out and about. Cummings suggests the enthusiasm of children and the childlike enthusiasms of adults in his first use of the word “wee” in line 5. The word “wide” is expected after “far and,” but Cummings changes this clichéd expression to convey the “wee” of the fun that spring represents.
Khổ thơ đầu tiên và dòng thơ tiếp theo cũng nói về sự xuất hiện của người lớn vào cuộc đời "chỉ trong," hay nói một cách chính xác, vào mùa xuân. Người bán bong bóng có thể nhỏ và khập khễnh, nhưng anh ta huýt sáo và trông có vẻ vui khi được đi rong ngoài trời.  Cummings đã nói lên được lòng rộn ràng đón xuân của trẻ thơ và của cả người lớn bằng cách sử dụng lần đầu tiên từ ngữ "wee" trong câu thơ số 5.  Từ "wide" đáng lẽ được nói sau cụm từ "far and," nhưng Cummings đã đổi thành ngữ thường được dùng "far and wide" để nó chứa từ "wee" nhằm diễn tả sự vui tươi nhộn nhịp cuả mùa xuân.
In the second stanza, the childlike speaker of the poem revels in playmates and their games. Playing marbles and pretending to be pirates are examples of the energy and imagination that spring stimulates. The poem itself is a manifestation of vigor; it is at once a description, celebration, and evocation of what spring feels like.
Trong khổ thơ thứ hai người phát ngôn của bài thơ giống như trẻ nhỏ cũng thích thú chơi đùa với bạn bè.  Chơi bắn bi và giả làm hải tặc là những thí dụ nói lên nhựa sống và óc tưởng tượng mà mùa xuân phấn kích con người.  Tòan bài thơ là biểu hiện của sức sống; vừa mô tả, vừa đón mừng, vừa gợi lên những cảm xúc xuân.   
Line 10 suggests that spring turns the world into a splendid playground. The balloonman enters the poem again—this time described as “queer” and “old” but still whistling, as if in spring ......
Dòng thơ thứ 10 cho thấy mùa xuân đã biến cả đất trời thành một vườn chơi tuyệt vời.  Người bán bong bóng lại hiện ra trong bài thơ --lần này được mô tả như một người "già" "lạ lùng," nhưng vẫn huýt sáo.... 
Cummings has been justly praised for his innovative use of typography. Beginning with the poem’s title, “in Just-,” which begins in the lower case and ends with a hyphen, the poet is evoking a fresh way of rendering the freshness of spring. The season is a part of the unending cycle of nature, and the poem’s title is an expression of that ongoing cycle. Spring is both a season and an action (a noun and a verb), and to capitalize it—or to capitalize the first word of the title “in”—would be to make spring as a season and a state of mind conform to typography. Cummings takes the opposite approach, making typography conform to the feeling of being in the season of spring,
Người ta cũng ca ngợi Cummings về tài sắp xếp chữ trên trang giấy mới lạ của ông.  Bắt đầu với tựa đề bài thơ "in Just-", không viết hoa chữ "in" và tựa dừng lại bằng một gạch nối, thi sĩ đã gợi lên một cách mới lạ độc đáo nét tươi mới của mùa xuân.  Mùa xuân là một phần của chu kỳ không có kết thúc trong thiên nhiên, và tựa đề bài thơ đã nói lên được cái chu kỳ tiếp diễn miên viễn đó. Chữ spring vừa là danh từ với nghĩa là mùa xuân vừa là động từ chỉ hành động, và nếu viết hoa nó --cũng như nếu viết hoa mẫu tự "i" trong tựa đề "in"-- thì sẽ khiến chữ spring thành nghĩa mùa xuân và làm đầu óc con người tuân theo khôn khổ ước lệ của việc xếp chữ.  Cummings có một cách tiếp cận khác, ông biến cách sắp chữ phải theo cảm xúc con người đang ở trong mùa xuân.
Similarly, by ending the title with a hyphen (a punctuation mark that usually connects two words) Cummings is emphasizing that spring is connected not to one word or idea but to many—to a sense of the wide world, of its possibilities. Spring makes people feel expansive and connected to each other and to the rest of the world, the poem implies. Finally, “Just” is capitalized because of the poem’s insistence that it is “just” in spring that people feel so in touch with everything.
Tương tự như vậy, khi kết lại tựa đề bài thơ bằng một gạch nối ̣(một dấu thường dùng để nối từ kép), Cummings nhấn mạnh rằng mùa xuân có liên hệ không chỉ với một từ ngữ hay một ý tưởng --mà với cả thế giới rộng lớn, với những cái có thể xảy ra trên thế giới.  Mùa xuân khiến người tacảm thấy phơi phới, mở rộng tầm tay và nối kết với nhau, nối kết với những phần còn lại trên thế giới.  Đó là hàm ý của tác giả bài thơ.  Cuối cùng, chữ "Just" được viết hoa, vì bài thơ muốn nhấn mạnh rằng "Chỉ" trong mùa xuân con người mới cảm thấy thiết thân với mọi thứ như thế.
Note also that there are gaps or spaces between words in lines 2, 5, 13, and 21. These intervals between words are filled, so to speak, with the actions and feelings of the poem, with its springing words that imitate the jumping and playing of the children and the balloonman....
Cần chú ý có những khoảng tác giả bỏ trống giữa các từ ngữ trong dòng thơ số 2, 5, 13, và 21.  Những khoảng trống này, có thể nói, được lấp đầy bằng hành động và cảm xúc hàm chứa trong bài thơ, với những từ ngữ nhúng nhảy như cách nhảy và nô đùa của đám trẻ thơ và người bán bong bóng....
                                                     Bibliography Tài liệu tham khảo
Ahearn, Barry, ed. Pound/Cummings: The Correspondence of Ezra Pound and E. E. Cummings. Ann Arbor: University of Michigan Press, 1996.
Bloom, Harold, ed. E. E. Cummings: Comprehensive Research and Study Guide. Philadelphia: Chelsea House, 2003.
Dumas, Bethany K. E. E. Cummings: A Remembrance of Miracles. London: Vision Press, 1974.
Kennedy, Richard S. E. E. Cummings Revisited. New York: Twayne, 1994.
Kidder, Rushworth M. E. E. Cummings: An Introduction to the Poetry. New York: Columbia University Press, 1979.
Lane, Gary. I Am: A Study of E. E. Cummings’ Poems. Lawrence: University Press of Kansas, 1976.
Norman, Charles. The Magic Maker: E. E. Cummings. Rev. ed. Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1972.
Sawyer-Lauçanno, Christopher. E. E. Cummings: A Biography. Naperville, Ill.: Sourcebooks, 2004.
Wegner, Robert E. The Poetry and Prose of E. E. Cummings. New York: Harcourt, Brace & World, 1965. 

Tuesday, August 20, 2019

Ngôi Nhà Usher Bị Sụp Đổ -- (2) -- Truyện Ngắn Của Edgar Allan Poe (1809-1849)


Tôi đang mãi suy nghĩ về nghi lễ tôn giáo hoang sơ nói trong tác phẩm ấy, và ảnh hưởng có thể có của nó lên người bạn lo sợ thái quá về bệnh của mình thì một tối nọ, sau khi đột ngột báo cho tôi biết cô Madeline đã qua đời, bạn tôi nói lên ý của anh muốn giữ xác cô ấy lại khoảng hai tuần (trước khi đem chôn) nơi một căn phòng trong số rất nhiều phòng ẩn sâu giữa các tường thành bao quanh tòa nhà.  Tuy nhiên, lý do phức tạp để tiến hành tiến trình có một không hai này là một lý do mà tôi cảm thấy mình không được phép bàn cãi lại.  Người anh, khi nghĩ đến tính cách kỳ lạ của căn bệnh mà cô em quá cố mắc phải, đã tìm đến một giải pháp (anh nói với tôi như thế) trước những thắc mắc lộ liễu và dai dẳng từ phía mấy người điều trị cho cô em, và trước tình hình khu đất chôn xa xôi và không kín đáo của gia đình anh.  Tôi không phủ nhận rằng, khi nhớ lại gương mặt lấm lét của người bác sĩ mà tôi gặp nơi cầu thang hôm tôi mới đến nhà anh bạn, tôi không hề muốn phản đối giải pháp của anh, một giải pháp tôi cho là thận trọng vô hại trong tình huống thuận lợi nhất, dù chắc chắn giải pháp đó không bình thường.
Theo yêu cầu của Usher, đích thân tôi giúp anh thu xếp việc chôn cất tạm thời.  Xác cô em đã được khâm liệm, và chúng tôi đưa xác đến nơi an nghỉ.  Nơi chúng tôi đặt quan tài vào là một hầm mộ nhỏ, ẩm thấp, và ánh sáng hoàn toàn không thể rọi vào được (đã lâu lắm rồi hầm mộ ấy không ai mở ra, nên các ngọn đuốc của chúng tôi có phần bị ngộp bởi bầu không khí ngột ngạt trong đó, làm cho chúng tôi không thấy rõ để có thể nhìn kỹ hầm mộ).  Hầm mộ ấy nằm rất sâu ngay bên dưới căn phòng tôi ngủ trong tòa lâu đài. Vào thời phong kiến xa xưa, dường như nó đã được dùng vào những mục đích tồi tệ nhất của thành lũy chính, rồi về sau nó trở thành chỗ chứa thuốc súng hoặc một số chất dễ cháy, vì một phần sàn nhà của tầng hầm, và toàn bộ phần bên trong của lối đi hình vòm cung trải dài mà chúng tôi phải đi qua để đến hầm đều được bọc bằng đồng.  Cánh cửa đồ sộ bằng sắt cũng được bảo vệ tương tự như thế.  Khi cửa hầm di chuyển quanh bản lề, sức nặng của nó gây ra một âm thanh kẽo kẹt lạ lùng cưc kỳ chói tai.
Sau khi đã đặt quan tài lên dàn khung trong hầm mộ, chúng tôi hé nắp quan chưa đóng đinh để nhìn gương mặt của người quá cố.  Bấy giờ nét giống nhau của hai anh em lần đầu tiên làm tôi chú ý. Usher có lẽ đoán được tư tưởng của tôi, anh lẩm bẩm vài lời mà qua đó tôi được biết thêm là người quá cố và anh là hai anh em sinh đôi; và giữa hai người có một sự đồng cảm rất khó hiểu.  Dẫu vậy, chúng tôi không nhìn người chết lâu vì chúng tôi không thể không kính sợ cô ấy.  Như thường thấy ở tất cả các chứng bệnh gây động kinh, căn bệnh khiến cô lìa đời ở tuổi trưởng thành mỉa mai thay đã để lại nét hồng hào trên ngực và trên gương mặt, với nụ cười như còn phảng phất trên môi người chết trông thật dễ sợ.  Chúng tôi đậy quan tài lại như cũ và vặn đinh ốc nắp hòm.  Sau khi đã đóng kỹ cửa sắt, chúng tôi mệt mỏi trở về chỗ ở không kém phần u ám của mình ở tầng trên tòa nhà. 
Giờ đây, khi vài ngày đau buồn đã trôi qua, tôi có thể thấy được sự thay đổi nơi nét rối loạn tâm thần của bạn mình.  Điệu bộ thường thấy của anh ấy đã biến mất.  Anh không buồn làm, hoặc anh đã quên hẳn, những công việc anh thường làm trước đây. Anh rảo bước từ phòng này đến phòng kia, một cách vội vã, bồn chồn, vô định.  Gương mặt xanh xao của anh nhuốm vẻ bệnh hoạn dễ sợ, còn ánh mắt sáng giờ đã hoàn toàn lụi tắt.  Giọng nói khàn khàn của anh trước đây tôi còn nghe thấy cũng đã lặng tiếng; và miệng anh chỉ thốt ra những lời lắp bắp, run run như đang hoảng sợ.  Quả thật có những lúc tôi nghĩ rằng tâm tư bồn chồn xao xuyến không ngừng của anh đang khốn khổ vật lộn với một điều bí ẩn đè nặng và anh phải đấu tranh, thu hết can đảm để nói ra điều đó. Lại có lúc tôi phải đổ thừa tất cả chẳng qua chỉ do sự điên loạn bất thường không thể lý giải được nơi bạn tôi, bởi vì tôi thấy anh nhìn vào khoảng trống cả giờ, thái độ cực kỳ chăm chú, như thể anh đang lắng tai nghe một thứ âm thanh tưởng tượng nào đó. Không còn kinh ngạc gì khi tình trạng của anh ấy đã lây sang tôi, khiến tôi đâm sợ hãi. Tôi cảm thấy những ảnh hưởng man dại do óc mê tín kỳ lạ và đầy ấn tượng của anh đang len lỏi vào người tôi một cách từ từ nhưng chắn chắn.
Một tối khi lên giường ngủ, vào khoảng bảy hoặc tám ngày sau khi đưa cô Madeline vào hầm sâu dưới tòa lâu đài, thật kỳ lạ, tôi nghiệm thấy sức mạnh của những cảm xúc ấy thật rõ ràng.  Giấc ngủ không đến với tôi được, và giờ này đến giờ kia cứ thế trôi qua. Tôi cố sức suy nghĩ để tìm hiểu lý do vì sao tôi lại bị nỗi hồi hộp lo sợ đè nặng tâm tư.  Tôi cố gắng tin rằng phần lớn, nếu không nói là tất cả, những gì tôi cảm thấy đều do ảnh hưởng của đồ đạc u ám trong căn phòng gây ra --những tấm màn sẫm màu, tả tơi, đang bị ngọn gió bão mới nổi lên hành hạ từng cơn, bay tới bay lui phần phật trên vách tường, tạo nên tiếng sột soạt khó chịu khi chúng chạm vào những vật trang trí nơi chiếc giường.  Nhưng những cố gắng lý giải của tôi đều không mang lại kết quả.  Toàn thân tôi dần dần rung lên không cưỡng lại được; và cuối cùng trên tim tôi như có con quỷ tôi hoàn toàn không biết từ đâu đến đang đè lên.  Miệng há hốc và cố vùng vẫy để thoát khỏi nó, tôi bật người ra khỏi chiếc gối tôi đang nằm, mắt chăm chăm nhìn vào khoảng không đen tối của căn phòng, lắng tai nghe ngóng --tôi không rõ vì sao, ngoại trừ có một cái bóng không rõ ràng thúc dục tôi làm thế--những âm thanh nho nhỏ, mơ hồ nào đó, không biết từ đâu từng chập vọng đến mỗi khi tiếng gió bão dịu xuống.  Lòng vô cùng hồi hộp lo sợ, không biết vì sao và cũng không thể chịu nổi, tôi vội vã thay áo quần (vì tôi cảm thấy đêm ấy tôi không thể ngủ được nữa), và, để ra khỏi trạng thái đáng thương tôi đang bị lâm vào, tôi cố vực mình tỉnh dậy bằng cách đi tới đi lui thật nhanh trong căn phòng. 

T
ôi đi như thế được vài vòng thì nơi cầu thang bên cạnh có tiếng chân bước nhẹ làm tôi chú ý.  Tôi liền nhận ra đó là bước chân của Usher.  Chậ̣p sau anh gõ nhẹ lên cửa phòng tôi, rồi bước vào, tay cầm đèn.  Mặt anh vẫn xanh mét như người chết –nhưng đôi mắt lộ nét hớn hở điên dại, rõ ràng trông anh có vẻ đang bị kích động mạnh nhưng cố kềm chế lại.  Dáng điệu của anh khiến tôi sửng sốt –nhưng tôi chịu đựng sự cô quạnh đã quá lâu nên nếu có cái gì khác tôi cũng thấy thích hơn, và tôi đón nhận sự hiện diện của anh như một niềm khuây khỏa cho mình. 
“Anh có thấy nó không?” Usher cất tiếng sau khi im lặng nhìn quanh giây lát.  “Vậy là anh chưa thấy nó sao? –nhưng hãy ở đây! Anh sẽ thấy.”  Miệng vừa nói, anh vừa lấy tay che ngọn đèn một cách cẩn thận, và vội vã đi đến cửa sổ, mở toang nó ra trong khi bên ngoài trời đang gió bão.
Ngọn cuồng phong ùa vào dữ dội  gần như nhấc bỗng hai chúng tôi lên.  Quả thật tối hôm đó trời tuy giông tố nhưng lại có nét đẹp uy nghiêm, một đêm vừa kinh dị vừa tuyệt hảo man rợ có một không hai.  Một cơn lốc đang tập trung trong vùng lân cận, vì hướng gió cứ thay đổi từng cơn giật mạnh; và mây đen dày đặc (giăng thấp đến độ đè lên cả các tháp nhỏ trên nóc lâu đài) cũng không thể ngăn chúng tôi không cảm thấy tốc lực vũ bão của những đám mây từ tứ phía đang ùn ùn lao vào nhau, chứ không phải trôi đi xa. Tôi phải nói ngay cả độ dày đặc của mây đen cũng không cản nổi chúng tôi cảm nhận như thế; chúng tôi không thấy bóng mặt trăng hay chút ánh sao, cũng không hề thấy lóe lên một tia chớp nào.  Nhưng cả một khối hơi bất an khổng lồ bên dưới đám mây đen, cũng như tất cả mọi vật trên mặt đất nằm ngay chung quanh chúng tôi đều rực lên dưới một thứ ánh sáng kỳ lạ tỏa ra từ một làn hơi nhẹ nhưng chúng tôi có thể thấy rõ đang bao phủ lên cả tòa lâu đài.    
“Không được –tôi không muốn anh nhìn cái này!” tôi rung người lên nói với Usher, vừa nói vừa kéo anh đi từ cửa sổ về chỗ ghế ngồi.  “Những cảnh tượng này là những hiện tượng điện từ, không có gì lạ cả, và chúng chỉ làm anh rối trí thêm, hoặc cũng có thể nguồn gốc ghê rợn của chúng là làn ám khí * bốc lên từ cái hồ nước ấy.  Chúng ta hãy đóng cửa sổ lại; khí lạnh này có hại cho cơ thể của anh.  Đây là một trong số những tiểu thuyết anh thích nhất.  Tôi sẽ đọc cho anh nghe; --và chúng ta sẽ cùng nhau sống qua đêm kinh khủng này như thế.”
Quyển sách cổ xưa tôi lấy lên đọc có tựa là Mad Trist** của Ngài  Launcelot Canning; nhưng tôi nói nó là một trong những quyển truyện Usher yêu thích nhất là nói bông đùa*** chứ thực sự không như vậy, bởi vì thật ra vẻ thiếu tinh tế và trí tưởng tượng nghèo nàn trong truyện khó hấp dẫn đối với tâm tư thiên hướng cao cả và thiên về tâm linh của bạn tôi.  Tuy vậy, đó là quyển sách duy nhất nằm ngay trong tầm tay; và tôi có chút hy vọng mong manh là sự bồn chồn khiến anh bạn lo âu thái quá của tôi không yên (bởi vì lịch sử về bệnh tâm thần đầy rẫy những điều bất thường như thế) có thể vơi đi khi anh nghe những điều ngốc nghếch tôi đọc.  Quả thật vậy, nếu người ta đánh giá tôi qua vẻ chăm chú sinh động khi anh lắng nghe, hay có vẻ như đang lắng nghe, thì tôi có thể tự khen mình đã thành công khi nghĩ ra cách đọc sách cho anh như thế.
-----
*rank = foul-smelling; mùi hôi, ám khí 
**
Mad Trist tả lại việc Ethelred xông vào chỗ ở của một người ẩn dật; phản ảnh sự kiện Madeline lúc bấy giờ đang vùng thóat ra khỏi hầm mộ của cô
Mad Trist,” which is about the forceful entrance of Ethelred into the dwelling of a hermit, mirrors the simultaneous escape of Madeline from her tomb. “Mad Trist” spookily crosses literary borders, as though Roderick's obsession with these poems [“The Haunted Palace” and “Mad Trist”] ushers their narratives into his own domain and brings them to life.
***
Sad Jest:
 
Tôi đọc đến phần hay nhất của câu truyện khi đó Ethelred, vị anh hùng của thành Trist, sau khi đã hoài công tìm cách đi vào chỗ ở của vị ẩn sĩ một cách bình an, tiến đến dùng vũ lực để vào cho được.
---
The story features numerous allusions to other works of literature, including the poems “The Haunted Palace” and “Mad Trist” by Sir Launcelot Canning. Poe composed them himself and then fictitiously attributed them to other sources. Both poems parallel and thus predict the plot line of “The Fall of the House of Usher.” 
----
Dưới đây là những lời trong câu truyện mà người ta sẽ nhớ mãi:
“Và Ethelred, với trái tim kiên cường, giờ đây lại thêm dũng mãnh, nhờ sức mạnh do rượu nho chàng uống, không thể chờ để đến diện kiến vị ẩn sĩ nữa; thực ra, chàng đã chuyển thành ngang tàng và hiểm ác, nhưng cảm thấy giọt mưa rơi trên vai và e sợ trời sẽ nổi cơn giông, chàng lập tức nhấc cao cái chùy, đập mạnh vào các tấm gỗ nơi cánh cửa đủ để có chỗ cho bàn tay đeo găng bọc sắt của chàng có thể thò tay vào trong giật  cửa thật mạnh; thế là chàng làm cánh cửa nứt toạc ra, tiếng gỗ khô bọng ruột vang dội kinh động cả khu rừng.”
Khi vừa đọc xong câu này tôi giật mình, và dừng lại giây lát; vì tôi thấy như (mặc dù tôi kết luận ngay là tôi bị sự hồi hộp do tưởng tượng đánh lừa)—tai tôi nghe thấy từ một khu nào đó xa xa trong tòa nhà có tiếng mơ hồ giống hệt như tiếng vọng của âm thanh cánh cửa nứt toạc và bị giật toang (nhưng chắc chắn tiếng ấy bị chặn lại nghe không rõ) mà Ngài Launcelot đã mô tả rất đặc biệt.  Không chút hồ nghi, chính sự trùng hợp này đã làm tôi chú ý; vì giữa tiếng phần phật của cửa sổ kính, cộng với những âm thanh lẫn lộn thường có lúc cơn bão đang hoành hành, thì cái tiếng ấy chắc chắn tự nó không có gì khiến tôi phải chú ý hoặc phân tâm cả.  Tôi đọc tiếp truyện: 
---
 In sooth: in truth, really
The phrase 'of a cataleptical character' means 'similar to catalepsy'.
Catalepsy is a state of insensibility (i.e., not responding to stimulation) accompanied by bodily rigidity.
  This means that besides wasting away, Madeline also suffered seizures.

https://www.cliffsnotes.com/literature/p/poes-short-stories/summary-and-analysis/the-fall-of-the-house-of-usher
----

Nhưng chàng Ethelred vô địch tài giỏi, giờ đã vào được bên trong cửa, tức tối giận dữ khi chàng không thấy có một dấu hiệu nào về nhà ẩn sĩ gian hùng ở đó; nhưng thế cho ông là một con rồng có vảy khổng lồ, miệng nó khạc ra lửa, ngồi canh trước tòa lâu đài bằng vàng, sàn làm bằng bạc, trên tường có treo cái khiêng bằng đồng sáng lóang trên có khắc chữ:
                        Ai bước được vào đây là người đã chinh phục;
                        Là người đã giết được con rồng, người ấy sẽ giành được cái khiêng.
Thế là Ethelred nhấc trượng của mình lên, đập vào đầu con rồng, làm nó ngã quỵ trước mặt chàng, nó dừng thở hơi thở hôi hám của nó ngay, rú lên một tiếng kinh khủng, thật chói tai, đến nỗi Ethelred phải lấy tay che lỗ tai lại để khỏi nghe tiếng rú kinh khiếp của nó, một thứ âm thanh người ta chưa hề nghe bao giờ.”
Đến đây tôi đột ngột dừng lại; bấy giờ tôi cảm thấy hết sức sửng sốt, vì rõ ràng tôi thực sự nghe thấy (dù tôi không thể nói tiếng ấy xuất phát từ hướng nào) từ xa xa vọng lại một tiếng rú hay tiếng rít lên thật chói tai và dai dẳng, hết sức kỳ lạ –y hệt tiếng rú kỳ quặc của con rồng mô tả trong truyện mà tôi có thể tưởng tượng trong đầu.
Dù chắc chắn lòng tôi đang nặng trĩu bởi vô vàn cảm xúc mâu thuẫn, chủ yếu là ngỡ ngàng và vô cùng kinh sợ, trước việc xảy ra sự trùng hợp lần thứ hai hết sức hi hữu này, tôi vẫn cố trấn tĩnh, để tránh kích động tính lo âu nhạy cảm của bạn tôi, nhỡ anh quan sát thấy. Tôi hoàn toàn không chắc anh ghi nhận những tiếng ấy; mặc dù, tôi tin chắc rằng trong vài phút vừa qua điệu bộ của anh đã thay đổi một cách kỳ lạ.  Đang từ vị trí ngồi đối mặt với tôi, anh đã dần dần xoay ghế lại để có thể ngồi đối diện với cửa phòng, và vì thế tôi chỉ có thể nhận thức được một phần nào nét mặt của anh, dù tôi có thấy môi anh run lên như thể anh đang  lầm bầm điều gì đó.  Đầu anh gục xuống ngực, nhưng tôi biết anh không ngủ, vì tôi thoáng nhìn nghiêng thấy mắt anh mở to và nhìn chăm chăm. Thân thể của anh cử động không đồng nhất với ý tưởng này, bởi vì anh lắc lư nó qua lại một cách nhẹ nhàng, đều đặn, nhất quán.  Sau khi ghi nhận tất cả những điều này thật nhanh, tôi lại đọc tiếp truyện của Launcelot, như sau: 
“Và giờ đây, sau khi đã thoát ra khỏi cơn thịnh nộ kinh khủng của con rồng, nhà vô địch lại nghĩ về cái khiêng bằng đồng và về việc thoát khỏi chú thuật ếm lên nó, chàng đẩy xác con vật trước mặt qua một bên, và dũng cảm tiến bước trên lối đi dát bạc của tòa lâu đài đến chỗ có cái khiêng trên tường.  Cái khiêng thực sự không nằm lì ở đó chờ chàng đến, mà rơi xuống sàn bạc ngay nơi chân chàng gây ra một tiếng rầm vang dữ dội.”   
Miệng tôi vừa nói xong những lời này thì –như thể có một cái khiêng bằng đồng thực sự rơi xuống sàn nhà bằng bạc, tôi nghe thấy có tiếng vọng lại rõ mồn một, trong và rổn rảng như tiếng kim loại, mặc dù dường như tiếng đó bị chặn lại.  Kinh hòang tột độ, tôi nhảy dựng lên, nhưng Usher vẫn tiếp tục ngồi lắc lư trên ghế không thay đổi.  Tôi chạy đến chỗ anh ngồi.  Đôi mắt anh nhìn thẳng phía trước mặt, và toàn bộ gương mặt anh cứng đờ ra như tượng đá. Nhưng khi tôi đặt tay lên vai anh, thì cả người anh giật mạnh lên; một nụ cười bệnh hoạn run run hé trên môi anh, và tôi thấy anh lầm bầm nho nhỏ những lời gì đó một cách vội vã, như thể anh không biết có sự hiện diện của tôi.  Cuồi xuống sát bên anh, cuối cùng tôi cũng nghe được những lời kinh hoàng do anh thốt ra.
“Anh không nghe nó sao? –vâng, tôi nghe, và đã nghe hoài tiếng ấy.  Kéo dài – dài – dài nhiều phút, nhiều giờ, nhiều ngày, tôi từng nghe nó –nhưng tôi không dám –ôi, hãy thương xót tôi, sao tôi khốn khổ thế này! --tôi không dám, không dám nói!  Chúng ta đã chôn cô khi cô vẫn còn sống.  Đâu phải tôi không nói các giác quan của tôi còn tốt?  Giờ đây tôi nói cho anh biết tôi có nghe những cử động yếu ớt của cô ta trong quan tài trống.  Cách đây nhiều ngày tôi có nghe thấy chúng, nhưng tôi không dám — không dám nói!  Và giờ đây, tối nay –Ethelred, ha! ha! Phá cửa chỗ ở của nhà ẩn sĩ, và tiếng rú trước khi chết của con rồng, tiếng cái khiêng rơi xuống cái rầm! –hay nói cho đúng hơn, tiếng phá tung chiếc quan tài, vặn mở những cái nẹp sắt của ngục tù nhốt cô ấy, cùng với việc cô ấy phải vật vã trong cổng vòm cung nơi hầm mộ! Ôi, tôi biết bay đi đâu giờ?  Liệu giây lát cô ấy có sẽ  hiện ra đây không? Liệu cô ấy có sẽ vội vàng đến để mắng nhiếc tôi do tôi đã quá vội vàng hấp tấp? Có phải tôi đã nghe thấy tiếng chân cô ấy đi trên cầu thang?  Tôi có phân biệt được tiếng tim cô đập nặng nề, hổn hển không?  Tôi đúng là một thằng điên!” Nói rồi anh ta vùng đứng dậy thật nhanh*, gào lên những lời anh muốn nói như thể anh đang sắp từ bỏ linh hồn –“ Một thằng điên!  Tôi nói cho anh biết hiện giờ cô ta đang đứng bên ngoài cánh cửa đó!”
Như thể năng lực siêu phàm của lời anh nói có ma thuật, ngay lúc ấy, cánh cửa cổ xưa đồ sộ làm bằng gỗ mun anh giơ tay chỉ vào từ từ bị đẩy lùi.  Đó là vì luồng gió mạnh ùa vào khiến cửa mở –nhưng bên ngoài cánh cửa hiện ra bóng của cô Madeline Usher cao nghệu, phủ choàng vải liệm. Trên áo trắng cô mặc có dính máu, và những dấu vết cho thấy thân thể yếu đuối của cô đã phải vật lộn dữ dội để thóat ra.  Trong giây lát cô vẫn đứng đó, run rẩy, người chao đảo qua lại – rồi với một tiếng kêu rên nho nhỏ, cô đổ sầm xuống người ông anh, và trong cơn đau đớn dữ dội cuối cùng trước khi chết, cô làm người anh cũng bị đổ nhào xuống lăn ra chết trên sàn nhà, một nạn nhân của nỗi kinh hoàng mà anh đã đoán biết sẽ xảy ra.
Tôi kinh hoàng bỏ chạy ra khỏi căn phòng và toà nhà ấy.  Cơn bão đang cơn thịnh nộ, hoành hành cả vùng trong lúc tôi chạy băng ngang qua con đường cao đắp đất đá.  Bất thình lình có một làn ánh sáng man dại rọi ngang con lộ, và tôi quay lại nhìn xem tia sáng kỳ lạ đó từ đâu tới, vì sau lưng tôi chỉ có tòa nhà đồ sộ và chiếc bóng rọi xuống hồ của nó.  Ánh sáng tỏa ra đó là ánh trăng rằm, mới xuất hiện, màu đỏ như máu, giờ đây đang vằng vặc chiếu xuyên qua vết nứt trước đây khó lòng thấy được, vết nứt mà tôi đã có lần nói chạy dài như điện chớp từ nóc tòa nhà xuống tận chân tường.  Trong lúc tôi dán mắt nhìn, vết nứt toạc ra thật nhanh –một ngọn gió xoáy ùa đến rất mạnh – toàn bộ vành trăng tròn tức khắc hiện ra trước mắt tôi – tôi choáng váng khi nhìn những bức tường sừng sững đổ xuống tan tành – có tiếng ầm ầm vang lên thật lâu như tiếng của cả ngàn dòng nước – và hồ nước sâu ẩm thấp nơi tôi đứng lầm lì im ỉm bị lấp đi bởi những mảng đổ vỡ của tòa nhà Usher.

1839  
*To spring to his feet : to quickly or abruptly assume a standing position; to stand up quickly.