Friday, May 24, 2019

Chương IV Thời Kỳ Lãng Mạn (1820-1860)-Phần 2b:Tiểu Thuyết Của Herman Melville và Edgar Allan Poe

Herman Melville (1819-1891)
Giống như Hawthorne, Melville thuộc dòng dõi giàu có thời xưa, rồi đột ngột gia đình ông rơi vào cảnh túng thiếu khi người cha qua đời.  Mặc dù lớn lên trong một gia đình gốc quý tộc có truyền thống đầy tự hào và mặc dù ông làm việc siêng năng, Melville vẫn phải chịu cảnh nghèo khó và ông không được học lên đại học.  Năm 19 tuổi ông bắt đầu sống đời thủy thủ lênh đênh trên biển cả.  Từ kinh nghiệm bản thân ông tất nhiên quan tâm nhiều hơn đến đời sống của thủy thủ, và phần lớn các tiểu thuyết đầu tay của ông đều dựa trên những chuyến hải trình ông trải nghiệm. Qua các tác phẩm này chúng ta thấy một chàng trai trẻ Melville đầy kinh nghiệm mang tư tưởng dân chủ, căm ghét độc tài và bất công.  Tác phẩm đầu tay của ông, quyển Typee, dựa trên kinh nghiệm ông sống cùng dân trong bộ lạc Taipis hiếu khách nhưng bị gán là ăn thịt người ở quần đảo Marquesas* phía Nam Thái bình dương.  Quyển truyện ca ngợi người dân đảo và cuộc sống hài hòa cùng thiên nhiên của họ, và phê phán các nhà truyền đạo Thiên Chúa, những người Melville thấy còn kém văn minh thực sự hơn so với thổ dân ở miền đất họ đến để cải đạo.
Tác phẩm Moby Dick, tức Con Cá Voi Trắng, kiệt tác của Melville, là một trường thiên tiểu thuyết kể về chiếc tàu săn cá voi Pequod, và viên thuyền trưởng Ahab, “một kẻ vô đạo nhưng lại giống như ông thần,” chỉ vì luôn bị ám ảnh bởi tham vọng săn đuổi cho được con cá voi trắng Moby Dick mà ông đã đưa cả chiếc tàu cùng đoàn thủy thủ lao vào chỗ chết. Là một câu chuyện mạo hiểm hiện thực, tác phẩm này chứa đựng  nhiều suy tư chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về kiếp người.  Con cá voi, một biểu tượng khổng lồ, tượng trưng cho sự săn đuổi tri thức. Xuyên suốt tác phẩm thường có những đoạn mô tả và phân loại cá voi cùng kỹ nghệ săn bắt cá voi rất hiện thự sinh động, nhưng những đoạn như vậy còn mang ý nghĩa tượng trưng.  Trong Chương 15 “Cái Đầu của Giống Cá Voi Cần Săn Bắt**” người kề̉ chuyện nói rằng giống cá voi này là loài sống khổ hạnh, còn giống cá voi tinh trùng*** là giống theo phái Platon, ý nói về hai trường phái triết học cổ điển Tây phương.
---
*The Marquesas Islands: một nhóm quần đảo núi lửa của Pháp ở Nam Thái bình dương.
**Đây là giống cá voi da màu tối sẫm như màu đen mà các tàu đánh bắt cá voi mong muốn bắt được.  Giống cá này gồm ba loại đều thuộc họ cá Balaenidae, có đầu hình cung (bowhead): giống ở Bắc Đại tây dương, giống ở Bắc Thái bình dương, và giống ở miền Nam.  Chúng di chuyển chậm và sau khi bị giết chết chúng nổi trên mặt nước vì có lớp mỡ dầy .

Right whales or black whales are three species of large baleen whales of the genus Eubalaena: the North Atlantic right whale, the North Pacific right whale and the Southern right whale. They are classified in the family Balaenidae with the bowhead whale. 
The right whale got its name because it was the "right" whale to hunt—it was slow moving and floated after being killed. This mother and calf are part of the western population of North Atlantic right whales.  Southern and the two species of northern right whales live in temperate Atlantic or Pacific waters, often near the coast. Right whales were named by whalers who identified them as the “rightwhale to kill on a hunt. ... Because of their thick blubber, right whales also float accommodatingly after they have been killed.

***Sperm là cách viết ngắn của chữ spermaceti. Nguyên lúc đầu người ta tưởng chất hơi nhờn, giống như sáp, được tìm thấy trong đầu loài cá voi này là tinh dịch của nó, nên họ mới đặt tên cho giống cá này như vậy.  Vào thế kỷ 18 và 19 những người đi săn cá voi vùng New England đi tìm kiếm loài cá voi này để đánh bắt, nhằm lấy chất dầu nhờn này trong đầu của nó vì đấy là thứ dầu bôi trơn đặc biệt tốt.

The name sperm whale is a truncation of spermaceti whale. Spermaceti, originally mistakenly identified as the whales' semen, is the semi-liquid, waxy substance found within the whale's head  


In the 18th and 19th centuries, New England whalers sought out the Sperm whale for the valuable spermaceti oil, which makes an exceptionally fine lubricant.
Spermaceti (sperm oil), from which the whale derives its name, was a prime target of the whaling industry, and was sought after for use in oil lamps, lubricants, and candles. Ambergris, a solid waxy waste product sometimes present in its digestive system, is still highly valued as a fixative in perfumes, among other uses. Beachcombers look out for ambergris as flotsam.[8] Sperm whaling was a major industry in the nineteenth century, immortalised in the novel Moby Dick. The species is protected by the International Whaling Commission moratorium, and is listed as vulnerable by the International Union for Conservation of Nature.
---

Mặc dù tiểu thuyết của Melville mang tính triết học, nó cũng đầy bi thương.  Tuy rất dũng cảm anh hùng, Ahab cuối cùng cũng phải chết và bị nguyền rủa.  Thiên nhiên, dù thật đẹp, cũng dửng dưng và có thể gây ra cái chết cho con gnười.  Qua tác phẩm Moby Dick, Melville không đồng ý với tư tưởng lạc quan của Emerson khi cho rằng con người có thể hiểu thiên nhiên.  Moby Dick, con cá voi trắng khổng lồ, là một hiện hữu bí ẩn huyền hoặc phủ trùm lên toàn bộ cuốn tiểu thuyết, cũng như nó luôn là nỗi ám ảnh ngày đêm đối với Ahab.  Những sự kiện về loài cá voi và về ngành đánh bắt cá voi không giải thích gì cả về con cá Moby Dick; ngược lại, những sự kiện ấy thường mang tính tượng trưng, và mỗi sự kiện lại có mối liên hệ tiềm tàng với một sự kiện khác trong mạng lưới vũ trụ chằng chịt. Tuy vậy, ý tưởng về sự tương liên chằng chịt này (như Melville nói đến trong Chương “Sphinx”) không có nghĩa là con người có thể đọc được chân lý nơi thiên nhiên, như Emerson quan niệm.  Ẩn sau những sự kiện được Melville tích lũy trong tiểu thuyết này là một cái nhìn chúng ta khó lòng hiểu được --nhưng không hề có giải thích nào để giúp chúng ta thấy cái nhìn đó là tốt hay xấu, có nhân tính hay phi nhân tính.
Với cách nói ngụ ý bóng gió và nhìn sâu vào bên trong tâm hồn, tiểu thuyết Moby Dick quả thật rất hiện đại.  Nói khác đi, tiểu thuyết này thường nói về chính nó.  Melville hay bình luận về các tiến trình hoạt động của trí não con người như việc viết, đọc và hiểu.  Thí dụ, tác giả dành cả một chương sách khảo sát cặn kẽ, và tìm cách phân loại, nhưng lại bỏ dở dang, ông cho rằng không có gì vĩ đại có thể hoàn tất (“Hỡi Thượng Đế xin hãy giữ đừng để con hoàn thành việc gì cả.  Toàn bộ quyển sách này chỉ là một bản nháp –không, nói cho đúng nó là bản nháp của một bản nháp. Ôi Thời gian, Sức mạnh, Tiền bạc, và Lòng kiên nhẫn”).  Ý niệm về một bản thảo không hoàn hảo hay một bản nháp bị bỏ dở dang của Melville là một khái niệm đương đại của thời chúng ta.

Ahab một mực tìm cách dựng lên hình ảnh  một thế giới với những giá trị tuyệt đối, anh hùng và phi thời gian, trong đó chàng giữ vị trí cao hơn tất cả mọi thủy thủ của mình.  Thật không khôn ngoan chút nào khi chàng đòi hỏi phải có một văn bản hoàn tất, với câu trả lời.  Nhưng qua tiểu thuyết này, ta thấy không hề có văn bản hoàn tất nào cả, cũng như không hề có những câu trả lời cuối cùng, ngoại trừ cái chết.  Xuyên suốt tác phẩm đều mang âm hưởng ít nhiều của các trích dẫn trong văn học.  Ahab, tên một ông vua trong Kinh Cựu Ước mong muốn đạt được một kiến thức toàn diện, như thánh thần, kiểu nhân vật Faust*
---
*
Faust, còn gọi là Faustus, hoặc Bác sĩ Faustus, là nhân vật chính của một trong số các huyền thoại dân gian và văn học Tây phương, kể về một phù thủy hay nhà chiêm tinh bán linh hồn cho quỷ để đổi lấy kiến thức và quyền lực.
Faust, also called Faustus, or Doctor Faustus, hero of one of the most durable legends in Western folklore and literature, the story of a German necromancer or astrologer who sells his soul to the devil in exchange for knowledge and power.
https://www.britannica.com/topic/Faust-literary-character

Giống như Oedipus trong vở kịch của Sophocles đã phải trả giá thê thảm vì tri thức lầm lạc của mình, Ahab đã bị mù, bị thương nơi chân, và cuối cùng bị giết chết.  Tác phẩm Moby Dick kết thúc với chữ “mồ côi.” Ishmael, người kể chuyện, là kẻ lang thang vô định như đứa trẻ mồ côi.  Cái tên Ishmael có nguồn gốc từ sách Khải Huyền trong Kinh Cựu Ước, Ishmael là con của Abraham và Hagar (người hầu của Sarah, vợ Abraham).  Cả Ishmael và Hagar đề bị Abraham đuổi vào rừng. 
Ngoài ra cũng có những ví dụ khác nữa.  Rachel (một trong số các bà vợ của Jacob) là tên chiếc thuyền đã cứu Ishmael ở phần kết cuốn sách.  Cuối cùng, con cá voi siêu hình nhắc độc giả Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo nhớ đến câu chuyện trong Kinh Thánh kể về Jonah người đã bị các thủy thủ xem là kẻ mang điềm xấu  nên họ phải ném anh ta xuống biển.  Theo Kinh Thánh, anh ta bị một con cá thật lớn (“big fish”) nuốt, và sống trong bụng cá một thời gian, sau nhờ Thượng Đế can thiệp, anh ta được cứu thóat và trở lại đất liền.  Tìm cách trốn tránh để khỏi bị trừng phạt chỉ khiến anh ta gánh chịu thêm nhiều khổ đau hơn.
Nhiều sự kiện lịch sử khác cũng làm quyển tiểu thuyết thêm phong phú.  Chiếc tàu Pequod mang tên một bộ lạc da đỏ đã tuyệt chủng ở vùng New England; và như thế cái tên Pequod hàm ý rằng chiếc tàu trước sau cũng sẽ bị hủy diệt.  Việc săn bắt cá voi là một ngành kỹ nghệ lớn, nhất là ở vùng New England.  Nó cung cấp dầu, một nguồn năng lượng cần yếu để thắp đèn.  Do đó cá voi thật sự “thắp sáng” cả vũ trụ.  Săn cá voi còn hàm ý về chủ nghĩa bành trướng*, và có liên quan đến ý tưởng cho rằng nước Mỹ tất yếu và cần thiết phải bành trướng khắp lục địa Mỹ châu, vì ngành này đòi hỏi tàu Mỹ phải đi khắp thế giới để săn tìm cá voi (thật vậy, tiểu bang Hawaii ngày nay đã được Mỹ chiếm đóng nhằm làm căn cứ chính để tàu săn cá voi của Mỹ đáp lại lấy thêm nhiên liệu.  Các thành viên trong đoàn thủy thủ của tàu Pequod thuộc các sắc dân và tôn giáo khác nhau, điều này cho chúng ta thấy nước Mỹ có tinh thần đại đồng, và là cái nồi thập cẩm (gồm đủ các giống dân).  Sau hết, Ahab là hiện thân bi tráng của chủ nghĩa cá nhân dân chủ Mỹ.  Chàng đã khẳng định vị trí cá nhân cao quý của mình và dám đương đầu với các thế lực bên ngoài không thể ngăn chặn được của vũ trụ.  Phần kết của tiểu thuyết đã làm dịu lại tính bi thảm của sự kiện chiếc tàu bị đắm.  Xuyên suốt tác phẩm, Melville đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn và cộng đồng nhân loại đa chủng.  Sau khi chiếc tàu bị chìm, Ismael được cứu sống nhờ chiếc quan tài được người bạn thân chạm trổ, đó là ông hoàng người Polynesia Queequeg, người chuyên phóng lao nhọn để giết cá voi và có nhiều vết xâm trên người.  Những nét khắc họa nguyên sơ và đầy tính huyền thoại trên chiếc quan tài nói lên cả lịch sử của vũ trụ.  Ishmael được cứu thoát chết bởi một vật tượng trưng cho cái chết.  Truyện kết thúc với sự sống lại bắt đầu từ cái chết.

Moby Dick từng được gọi là “bản anh hùng ca về thiên nhiên” –một kịch bản tuyệt vời về tinh thần con người trong bối cảnh thiên nhiên nguyên sơ, vì nó nói lên một huyền thoại về săn bắn, chủ đề kết nạp thành viên vào nhóm, tính biểu trưng của hòn đảo Eden, cách đối xử tốt đối với các giống người mà đời sống của họ còn thuộc vào thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, và về việc đi tìm cách tái sanh lại. Đặt con người một mình giữa thiên nhiên là nét đặc thù rất Mỹ.  Nhà văn và chính trị gia người Pháp Alexis de Tocqueville đã tiên đoán trong tác phẩm Dân chủ Ở Mỹ (1835) của ông rằng chủ đề này tất yếu sẽ xuất hiện ở Mỹ như là kết quả của nền dân chủ Mỹ.
----
*Vào thế kỷ 19 người Mỹ tin vào chủ thuyết Manifest Destiny, cho rằng nước họ tất yếu và cần thiết phải bành trướng lãnh thổ khắp lục địa Mỹ châu.
Manifest Destiny is the 19th century doctrine or belief that the expansion of the US throughout the American continents was both justified and inevitable.

Những biến cố xảy đến trong tương lai cho loài người, con người bị đẩy ra khỏi xứ sở và thời đại của mình, đứng trước thiên nhiên và Thượng Đế, với những đam mê hiếm có, những hoài nghi, những đau khổ khôn lường, sẽ trở thành chủ đề chính, nếu không muốn nói là chủ đề duy nhất, của thi ca Mỹ.
Tocqueville lý luận rằng, trong một nền dân chủ, văn chương phải nói về “những điều sâu kín nằm trong bản chất phi vật chất của con người,” chứ không chỉ nói về ngoại hình, hay những khác biệt hời hợt bên ngoài như giai cấp hoặc vị trí xã hội.  Chắc chắn Moby Dick và Typee, cũng như Những Cuộc Mạo Hiểm Của Huckleberry Finn và Walden, đều phù hợp với miêu tả nói trên. Các tác phẩm này đều ca ngợi thiên nhiên và đánh đổ khuynh hướng phân chia giai cấp và văn minh thành thị.
Edgar Allan Poe (1809-1849)  
Edgar Allan Poe, một người miền Nam, cùng với Melville đều có cái nhìn siêu hình tối ám xen lẫn các yếu tố hiện thực, đùa bỡn,chế diễu.  Ông đã đưa chuyện ngắn lên tầm cao và sáng tạo ra truyện trinh thám.  Nhiều truyện của ông đã mở đường cho tiểu thuyết khoa học giả tưởng, truyện kinh dị và hoang đường rất phổ biến hiện nay.
Cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm của Poe lúc nào cũng đầy bất an.  Giống như các nhà văn lớn thuộc thế kỷ 19 ở Mỹ, Poe mồ côi từ thuở nhỏ.  Năm 1835 ông có một cuộc hôn nhân kỳ lạ với người em họ Virginia Clemm khi cô mới 14 tuổi.  Cuộc hôn nhân này được cho là nỗ lực của Poe nhằm tìm kiếm một mái ấm gia đình ổn định mà ông thiếu mất. 
Poe tin rằng kỳ lạ là yếu tố cần yếu cho cái đẹp, và những gì ông viết thường mang phong cách nước ngoài, khác hẳn Mỹ.  Truyện của ông thường nói về các nhân vật quý tộc sống về nội tâm, có số phận hẩm hiu.  Giống như những người miền Nam khác, Poe rất trân quý lý tưởng của giai cấp quý tộc.  Những nhân vật sầu thảm này hầu như không bao giờ làm việc hay giao tiếp với xã hội, thay vào đó họ chỉ biết thu mình trong các lâu đài cổ mốc meo, tăm tối, được trải thảm treo màn mang tính biểu tượng kỳ lạ, che khuất thế giới thật có ánh sáng mặt trời, cửa sổ, có tường và sàn nhà để lộ rõ.  Các căn phòng khuất sâu không người biết đến là thư viện xưa cổ, là nơi chứa những bức tranh lạ, và các đồ vật linh tinh gốc từ phương đông.  Những người quý tộc trong truyện của Poe biết chơi nhạc và đọc sách xưa, cổ điển, rồi nghiềm ngẫm về các chuyện buồn đã xảy ra, thường là cái chết của những người thân yêu.  Chủ đề chết trong lúc còn sống, nhất là bị chôn sống, hoặc người chết trở về từ huyệt mộ dưới dạng ma cà rồng thường xuất hiện trong tác phẩm của Poe như "Chôn Sớm," "Ligeia," "Thùng Rượu Amontillado," và "Sự Sụp Đổ Của Ngôi Nhà Usher."  Cõi mờ tối giữa sự sống và cái chết cùng bối cảnh Gothic trong truyện của ông khiến người đọc choáng ngợp không phải chỉ có tác dụng tô điểm thêm vào câu chuyện.  Chúng phản ánh nội tại thời thượng thái quá và đầy tính chết chóc trong tâm lý bất an của nhân vật.  Chúng chỉ là sự diễn đạt tượng trưng cho cõi vô thức, và là trọng tâm văn thuật của Poe.
Thơ của Poe, giộng như thơ của nhiều nhà thơ miền Nam, giàu chất nhạc và theo sát luật âm vận.  Bài thơ nổi tiếng nhất của ông thời ông còn sống cũng như cho đến bây giờ, là bài "Con Quạ" (1845). Trong bài thơ ma quái này, người kể chuyện bị ám ảnh không thể ngủ được đang ngồi đọc sách và thương tiếc "Lenore đã khuất bóng" vào lúc nửa đêm thì có một con quạ (loài chim sống nhờ ăn thịt xác chết đã thối rửa, và vì thế nó tượng trưng cho sự chết) đến đậu nơi cửa nhà ông và cứ cất tiếng kêu lập đi lập lại điệp khúc nổi tiếng trong bài thơ "không còn nữa."  Bài thơ kết thúc với cảnh tượng bất động khi người kể chuyện chết đột ngột như đang còn sống:

Và con Quạ, không bay vụt đi,
nó đậu ở đó, vẫn còn đậu ở đó.  
trên bức tượng bán thân xanh xao của Pallas*
ngay trên cửa phòng tôi
và đôi mắt của nó trông như mắt quỷ đang mơ mộng
và ánh đèn dầu phía trên 
đổ bóng nó xuống nền nhà
và linh hồn tôi
từ chiếc bóng ấy
nằm trôi nổi trên sàn nhà
sẽ được chấp cánh bay lên --không còn gì nữa!

----
*Pallas là tên một vị thần Titan trong huyền thoại Hy lạp.  Nữ thần Athena cũng thường được gọi tên Pallas.  Cả hai vị thần đều có liên quan đến các binh thuật dùng trong chiến tranh.

(Pallas was a Titan god in Greek mythology, son of the Titans Crius and Eurybia. He had two brothers, Astraeus and Perses, and he was married to Styx, with whom he had a number of children; Zelus, Nike, Kratos, Bia, Scylla, Fontes and Lacus. He was the Titan of warcraft; Athena or Athene, often given the epithet Pallas, is an ancient Greek goddess associated with wisdom, handicraft, and warfare, who was later syncretized with the Roman goddess Minerva.)


Các truyện ngắn của Poe –như các truyện được ̣đề cập ở trên—thường được mô tả là truyện kinh dị.  Những truyện như “Con Bò Vàng,” “Lá Thư Mất Cắp” chủ yếu là truyện dựa trên lý trí và suy luận.  Truyện kinh dị của Poe mở đường cho các tác giả Mỹ chuyên viết tiểu thuyết kinh dị như H.P. Lovecraft và Stephen King, trong khi loại truyện suy luận báo trước sự ra đời của loại truyện trinh thám của Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald. và John D. Macdonald.  Nó cũng báo trước sẽ có loại tiểu thuyết khoa học giả tưởng.  Tất cả các truyện như thế cho ta thấy Poe rất quan tâm say mê tìm hiểu nội tâm con người, và tri thức khoa học kinh khủng đã thế tục hóa nhãn quan của con người về thế giới vào thế kỷ 19.

Trong mỗi thể loại Poe đều đi sâu tìm hiểu tâm hồn con người.  Xuyên suốt các tác phẩm của ông đều tỏa sáng tri thức sâu sắc về tâm lý học. Trong truyện “Con Mèo Đen” có câu: Có đến cả trăm lần như một, ai lại chưa từng phạm tội hoặc có một hành vi ngu xuẩn nào đó, lý do chỉ vì anh ta biết rõ mình không nên làm điều đó.”  Để tìm hiểu các diễn biến tâm lý lạ lùng không hề có ở nước Mỹ, Poe tìm hiểu các chuyện kể về người điên và tình cảm cực đoan. Văn phong rất mực cẩn trọng và lời giải thích chi tiết trong truyện của Poe càng làm tăng thêm nét kinh dị với những biến cố được mô tả sống động và đầy thuyết phục.

Việc Poe biết kết hợp giữa sự suy đồi tha hóa với tình cảm lãng mạn nguyên tuyền trong tác phẩm của ông đã thu hút mạnh mẽ người Âu châu, nhất là các nhà thơ Pháp như Stéphane Mallarmé, Charles Baudelaire, Paul Valéry và Arthur Rimbaud.  Mặc dù ông ghét kiểu dân chủ của quý tộc, chuộng những gì của nước ngoài hơn Mỹ, và viết về các chủ đề về sự tha hóa của con người, Poe không phải không có phong cách Mỹ.  Ngược lại, ông như một quyển sách giáo khoa điển hình chứng minh lời tiên đoán của Toqueville rằng nền dân chủ Mỹ sẽ sản sinh những tác phẩm phơi trần các vùng sâu kín ẩn khuất nhất của tâm hồn con người.  Nỗi lo sợ ăn sâu và tâm lý bất an dường như xảy ra ở Mỹ trước cả Âu châu, vì Âu châu đã có sẵn một cấu trúc xã hội vững vàng và phức tạp làm người Âu châu được ổn định về mặt tâm lý.  Ở Mỹ con người không hề được bù đắp về mặt tâm lý; mọi người phải tự lo cho mình. Poe đã mô tả chính xác mặt trái của giấc mơ Mỹ về con người tự lập thân và cho ta thấy cái giá của chủ nghĩa vật chất và cạnh tranh thái quá, đó là nỗi cô đơn, sống cách biệt mọi người chung quanh, và những hình ảnh chết đột ngột (chết trong lúc còn sống).

Sự “suy đồi tha hóa” trong truyện của Poe cũng phản ảnh việc hạ giá trị các biểu tượng xảy ra vào thế kỷ 19 --khi người ta hay để lẫn lộn các tác phẩm nghệ thuật thuộc nhiều thời kỳ khác nhau thu thập từ các nước khác nhau, làm chúng không còn danh tính riêng nữa mà chỉ còn là các món đồ trưng bày trong bộ sưu tập của họ.  Sự hỗn loạn về phong cách đặc biệt thể hiện rất rõ tại Mỹ, một đất nước thiếu hẳn phong cách truyền thống của riêng mình.  Tình trạng hỗn độn phản ánh sự thiếu mất các hệ thống tư tưởng nhất quán chặt chẽ khi việc di dân, đô thị hóa và công nghiệp hóa làm các gia đình mất đi gốc gác và các truyền thống của mình.  Trong hội họa, sự pha trộn các biểu tượng đưa đến tình trạng quái thai, một chủ đề mà Poe đã nêu rõ trong tập truyện ngắn nổi tiếng của ông tựa đề Những Chuyện Quái Đản và Cầu Kỳ (1840).


 

Chương IV Thời Kỳ Lãng Mạn (1820-1860)-Phần 2a:Tiểu Thuyết


Thời Kỳ Lãng Mạn 1820-1860: Tiểu Thuyết
Walt Whitman, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville, Edgar Allan Poe, Emily Dickinson và những nhà Siêu nghiệm luận là đại diện cho thế hệ văn học lớn đầu tiên hình thành ở Mỹ.  Trường hợp các tiểu thuyết gia, cái nhìn lãng mạn thường diễn đạt dưới hình thái mà Hawthorne gọi là “tiểu thuyết lãng mạn,”một dạng tiểu thuyết đầy tình tiết, giàu cảm xúc, và mang tính tượng trưng. Tiểu thuyết lãng mạn không phải loại chuyện diễm tình mà là tiểu thuyết nghiêm túc trong đó tác giả sử dụng các kỹ thuật đặc biệt để truyền đạt những ý nghĩa phức tạp, tinh tế.
Thay vì mô tả các nhân vật hiện thực với đầy đủ chi tiết như các nhà văn Anh hay Tây Âu, Hawthorne, Melville, và Poe đã xây dựng nhân vật chính trong tiểu thuyết của mình bao trùm lên toàn bộ cuộc đời, và chất chứa đầy ý nghĩa huyền thoại.  Các nhân vật chính trong tiểu thuyết lãng mạn Mỹ thường bị ám ảnh, dằn vặt và xa lạ với mọi người.  Arthur Dimmesdale hay Hester Prynne trong tiểu thuyết Vết Chữ Đỏ của Hawthorne, Ahab trong Moby Dick của Melville, cùng các nhân vật lạc loài và bị hôn ám triền miên trong truyện ngắn của Poe đều là những nhân vật chính cô đơn bị xô đẩy vào số phận tăm tối không lường trước được, một số phận sinh ra thật bí ẩn tận trong vô thức sâu thẳm nhất của chính nhân vật. Cốt truyện mang tính biểu trưng cho ta thấy các diễn tiến ngấm ngầm bên trong một não trạng thống khổ.
Một lý do khiến tiểu thuyết Mỹ đi sâu vào việc khám phá những ngõ ngách ẩn khuất của tâm hồn là vì ở Mỹ thiếu vắng đời sống cộng đồng truyền thống định cư ổn định. Các tiểu thuyết gia người Anh như Jane Austen, Charles Dickens (đại văn hào được nhiều người yêu thích nhất), Anthony Trollope, George Eliot, William Thackeray, sống trong một xã hội truyền thống, phức tạp, đâu ra đó, và họ chia xẻ cùng đọc giả thái độ đã cung cấp thông tin cho tác phẩm hiện thực của mình.  Các tiểu thuyết gia Mỹ phải đối mặt với một lịch sử đầy những xung đột và cách mạng, một vùng địa lý rộng lớn hoang dã, và một xã hội dân chủ năng động, hầu như không có giai cấp rõ rệt.  Tiểu thuyết Mỹ thường cho ta thấy sự vắng mặt của truyền thống mang tính cách mạng.  Nhiều tiểu thuyết Anh có nhân vật chính là một người nghèo vươn lên nấc thang kinh tế xã hội, có thể nhờ một cuộc hôn nhân tốt đẹp, cũng có thể do khám phá ra nguồn gốc quý tộc bí ẩn của mình.  Những câu chuyện bí ẩn như thế không hề thách thức cơ cấu xã hội quý tộc Anh, ngược lại nó còn khẳng định thêm xã hội ấy.  Sự thăng tiến của nhân vật chính làm thỏa mãn mơ ước được thành đạt của độc giả, phần lớn thuộc giới trung lưu.

Ngược lại tiểu thuyết gia Mỹ phải dựa vào những gì họ có.  Một mặt, nước Mỹ khi ấy là một nước biên cương chưa định hình rõ rệt, với biên địa thường xuyên bành trướng, gồm các nhóm di dân nói tiếng ngoại quốc và họ có lối sống quê kệch, lạ lùng riêng. Do đó nhân vật chính trong văn học Mỹ có thể thấy mình đơn độc giữa những bộ lạc ăn thịt người, như trong truyện Typee của Melville, hoặc nhân vật ấy đi thám hiểm vùng đất hoang dã như trong quyển Leatherstockings của James Fenimore Cooper, hoặc chứng kiến những cảnh cô đơn từ nhà mồ, như các nhân vật đơn độc của Poe, hay gặp quỷ đi trong rừng, như nhân vật Young Goodman Brown của Hawthorne.  Hầu hết các nhân vật chính nổi tiếng trong tiểu thuyết Mỹ đều là “những người cô đơn.”  Con người cá nhân dân chủ Mỹ phải tự tạo dựng mình lên, nếu quả có một con người như thế.
Tiểu thuyết gia nghiêm túc cũng phải tự tạo ra các thể loại mới – tự do mới có hình thái lập dị dàn trải rộng lớn như quyển tiểu thuyết Moby Dick của Melville hay quyển Truyện Kể Về Arthur Gordon Pym mơ màng tản mạn của Poe.  Ít có tiểu thuyết Mỹ nào đạt được sự hoàn hảo quy ước, ngay cả đến ngày nay cũng vậy.  Thay vì vay mượn những phương pháp văn học đã từng được thử nghiệm, người Mỹ có khuynh hướng tạo ra những kỹ thuật mới mẻ đầy sáng tạo. Ở Mỹ nếu chỉ là một đơn vị xã hội theo truyền thống rõ ràng vẫn chưa đủ, bởi vì cái xưa cũ và truyền thống đã bị bỏ lại đằng sau từ lâu rồi; ch́inh lực lượng mới mẻ đầy sáng tạo mới khiến người ta chú ý đến.
                                                                    Tiểu Thuyết Lãng Mạn
Loạ̣i tiểu thuyết lãng mạn u ám và kinh dị cho ta thấy rất khó tạo được danh tính riêng nếu không có một xã hội ổn định.  Kết thúc chuyện hầu hết các nhân vật chính trong tiểu thuyết lãng mạn đều chết.  Trong Moby Dick tất cả thủy thủ ngoại trừ Ismael, đều bị chết chìm, và vị giáo sĩ đa cảm nhưng tội lỗi Arthur Dimmesdale cũng chết cuối tác phẩm Vết Chữ Đỏ (The Scarlet Letter).  Trong văn học Mỹ, tiếng nhạc bi tráng, tự chia chẻ đã ngự trị trong các tiểu thuyết, ngay trước khi cuộc Nội chiến của những năm 1860 thể hiện bi kịch xã hội còn lớn hơn cả cuộc chiến, đó là bi kịch của một xã hội đầy những xung đột bên trong.
Nathaniel Hawthorne (1804-1864)
Nathaniel Hawthorne, một người Mỹ thế hệ thứ năm gốc người Anh, sinh ra tại Salem, Massachusetts, một thành phố cảng giàu có chuyên buôn bán với Ấn độ.  Từ thế kỷ trước một người trong tổ tiên của ông đã từng là quan tòa tại làng Salem xét xử những người phụ nữ bị buộc tội là phù thủy.  Hawthorne đã dùng ý tưởng về lời nguyền rủa của gia tộc mình về một quan tòa tàn ác để viết lên tác phẩm Ngôi Nhà Có Bảy Đầu Hồi.
Nhiều truyện của Hawthorne có bối cảnh là vùng New England thời Thanh giáo (Puritan), và tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông, Vết Chữ Đỏ (1850), là bức tranh mô tả cổ điển nước Mỹ Thanh giáo. Truyện kể về mối tình tha thiết nhưng bị xã hội ngăn cấm giữa một người đàn ông trẻ đa cảm, giáo sĩ Arthur Dimmesdale, với một phụ nữ trong làng xinh đẹp tên Hester Prynne.  Bối cảnh là miền Boston năm 1650, thời kỳ thuôc địa Mỹ mới thành lập, quyển tiểu thuyết làm nổi cộm sự tôn thờ thái quá học thuyết của Calvin (Calvinism) về mặt đạo đức, đè nén tình dục, mặc cảm tội lỗi và việc tự thú nhận tội dể được cứu chuộc tâm linh.
Vào thời ấy, tác phẩm Vết Chữ Đỏ là một quyển truyện táo bạo dám đả phá truyền thống.  Văn phong nhẹ nhàng, bối cảnh lịch sử của thời xa xưa, và cách diễn tả ẩn dụ mơ hồ đã làm dịu bớt đi chủ đề bi thương của truyện, khiến người đọc thích, nhưng những nhà văn phức tạp như Ralph Waldo Emerson và Herman Melville đã nhận thấy được sức mạnh “địa ngục” của tác phẩm này.  Nó dám đề cập những vấn đề thường thường không ai dám nói đến ở Mỹ vào thế kỷ 19, chẳng hạn nói về tác động của trải nghiệm dân chủ khai phóng mới mẻ lên hành vi cá nhân, nhất là về mặt tự do tính dục và tôn giáo.
Quyển sách có bố cục xuất sắc và văn chương tuyệt vời, sử dụng hình tượng ẩn dụ phù hợp, một văn thuật mà chính những người thực dân theo phái Thanh giáo thời kỳ đầu lập quốc từng cố gắng áp dụng.

Danh tiếng của Hawthorne còn được biết đến qua các tiểu thuyết và truyện ngắn khác.  Trong tác phẩm Ngôi Nhà Có Bảy Đầu Hồi (1851) một lần nữa Hawthorne bàn đến chủ đề lịch sử vùng New England. Sự “suy sụp” của ngôi nhà nói đến sự tàn lụi của một gia đình cũng như chính cái nha.  Đề tài của tiểu thuyết liên quan đến một lời nguyền rủa có từ đời cha ông để lại cho con cháu và việc thoát ly được khỏi lời nguyền ấy bằng tình thương. Như một nhà phê bình đã nhận xét, nhân vật chính giàu lý tưởng Holgrave đã nói lên rằng với cái nhìn dân chủ Hawthorne đã mất tin tưởng vào các gia đình quý tộc thời xưa: “Sự thật là, ít nhất 50 năm một lần, một gia đình nên hòa nhập vào đại đa số vô danh trong toàn bộ nhân loại, và nên quên đi tổ tiên dòng họ của mình.”
Hai quyển tiểu thuyết cuối cùng của Hawthorne ít thành công hơn.  Cả hai đều có bối cảnh hiện đại, khiến cho tính cách huyền bí của tiểu thuyết lãng mạn khó phát triển được.


Chuyện Tình Blithedale (1852) khá thú vị vì nó mô tả cộng đồng ở nông trại Brook, một cộng đồng có tính xã hội không tưởng.  Trong truyện này Hawthorne phê phán những nhà cải cách xã hội đầy tham vọng quyền lực, tự kiêu tự đại mà trong thâm tâm họ không phải là những nhà dân chủ chân chính.  Tượng Đầu Người Mình Dê Bằng Cẩm Thạch (1860), mặc dù có bối cảnh là Rome, lại bàn về chủ đề tội lỗi, cô đơn, chuộc lại lỗi lầm, và được cứu rỗi theo kiểu Thanh giáo. 
Những chủ đề này cùng bối cảnh đặc thù ở vùng New England theo Thanh giáo thời Mỹ còn là thuộc địa của Anh là dấu ấn của nhiều truyện ngắn nổi tiếng nhất của Hawthorne: “Cái mạng che màu đen của vị giáo sĩ,” “Chàng trẻ tuổi Goodman Brown,” “Thiếu tá Molineax, người bà con của tôi.”  Trong truyện cuối cùng, một người thanh niên ngây ngô từ miền quê lên thành –một việc thường xảy ra ở Mỹ trong thời đô thị hóa vào thế kỷ 19 để nhờ một người bà còn quyền thế mà anh ta chưa bao giờ gặp giúp đỡ.  Robin gặp nhiều khó khăn khi đi tìm vị thiếu tá ấy.  Cuối cùng vào một đêm nọ anh ta tham dự vào một vụ xô xát rất khác thường: dân chúng đang bêu rêu chế riễu một tên đàn ông hình như đã phạm tội rất nhục nhã, và tìm cách đuổi cổ hắn ra khỏi thành phố một cách tàn bạo.  Robin đã cười nhạo to hơn ai hết cho đến khi anh nhận ra rằng “tên tội phạm “ ấy chẳng ai khác hơn là người anh đang tìm kiếm, ông ta là đại diện cho người Anh nên đã bị đám đông quần chúng cách mạng Mỹ tước quyền chức.  Câu chuyện khẳng định có sự gắn bó chặt chẽ giữa tội lỗi và đau khổ mà mọi người đều nếm trải. Nó cũng nhấn mạnh chủ đề người tự lập thân. Như những người Mỹ dân chủ khác, Robin phải học cách vươn lên bằng chính sức lao động cần cù của mình, không phải bằng cách nương nhờ vào lòng ưu ái của người giàu có trong họ hàng.
“Thiếu tá Molineax, người bà con của tôi” phản ánh một trong những yếu tố độc đáo nhất trong truyện của Hawthorne: sự vắng mặt đời sống gia đình bình thường trong các tác phẩm của ông.  Trong khi Các Câu Chuyện Đựng Trong Vớ Da của Cooper cố gắng đưa đời sống gia đình vào miền đất ít hoang dã nhất của Mỹ, truyện ngắn và tiểu thuyết của Hawthorne thường cho ta thấy các gia đình tan vỡ, bị nguyền rủa, sống gượng gạo cùng nỗi đau khổ của những con người cô đơn.
Tư tưởng cách mạng cũng có thể đã góp phần vào việc ca ngợi ý thức tự do đầy tự hào nhưng lại cách biệt con người.  Cuộc Cách mạng Mỹ, theo cách nhìn tâm lý lịch sử, cũng tương tự như cuộc nổi loạn của một thanh niên mới lớn chống đối lại cha mẹ mẫu quốc Anh và đại gia đình Đế chế Anh.  Người Mỹ đã dành được độc lập, nhưng rồi họ lại bối rối vì phải đối đầu với tình trạng nan giải khi định hình một danh tính cho riêng mình, tách biệt khỏi thế lực xưa.  Tình hình này cứ diễn đi diễn lại nơi vùng biên cương, đến mức trong tiểu thuyết Mỹ, sự trơ trọi cô đơn có vẻ như là điều kiện sống vốn có của người Mỹ.  Thanh giáo và Tin lành, một tôn giáo khởi sinh từ Thanh giáo, có thể cũng đã làm yếu đi đơn vị gia đình khi rao giảng rằng trách nhiệm tiên quyết của mỗi người là tự cứu lấy linh hồn của chính mình.