Saturday, January 16, 2021

Chương VIII:Văn Xuôi Mỹ 1945-1990: Chủ Nghĩa Hiện Thực và Văn Xuôi Thử Nghiệm -- Phần 4

Saul Bellow (1915-2005)
Sinh ra ở Canada và lớn lên tại Chicago, Saul Bellow là người Do thái gốc Nga.  Thời sinh viên ông theo học ngành nhân chủng học và xã hội học, hai ngành đã ảnh hưởng nhiều đến ông. Có lần ông nói ông nợ Theodore Dreiser rất nhiều, nhờ đó mà ông cởi mở trước rất nhiều kinh nghiệm đa dạng, và tràn đầy xúc cảm trước các kinh nghiệm ấy của ông.  Là nhà văn rất đượ̣c kính trọng, Bellow đã được trao giải Nobel văn chương năm 1976.
Những tiểu thuyết đầu tiên mang tính hiện sinh và nhuốm vẻ ảm đạm của Bellow trong đó có tác phẩm Người Đàn Ông Đu Đưa/Dangling Man (1944)* mang hơi hướm văn của Kafka, kể về một người đàn ông đang chờ nhập ngũ, và tác phẩm Nạn Nhân/The Victim (1947) nói về mối quan hệ giữa người Do thái và người không phải Do thái.  Vào thập niên 1950, cái nhìn của Bellow có tính hài hước dí dỏm hơn: ông dùng một loạt nhân vật ngôi thứ nhất trong vai người kể chuyện năng nổ và phiêu lưu mạo hiểm như trong tác phẩm Những Cuộc Hành Trình của Augie March/The Adventures of Augie March (1953) —nói về một doanh nhân ở thành thị mang tính cách như Huck Finn, và trở thành nhân viên tiếp thị quảng bá hàng chợo đen ở Âu châu— và trong tác phẩm Henderson Ông Vua Làm Mưa/Henderson the Rain King (1959), một tiểu thuyết tuyệt hảo bi lẫn hài nói về một triệu phú trung niên vì tham vọng không được thỏa mãn đã bỏ đi sang Phi châu.
Những tác phẩm về sau của Bellow gồm Herzog/Herzog (1964) kể về cuộc đời bất an của một giáo sư dạy Anh văn yếu thần kinh chuyên nghiên cứu về ý tưởng cái tôi lãng mạn; Hành Tinh Của Ông Sammler/Mr. Sammler’s Planet (1970); Món Quà Của Humboldt/Humboldt’s Gift (1975); và quyển tự truyện Tháng Mười Hai Của Ông Khoa Trưởng/The Dean’s December (1982). 
Cuối thập niên 1980, Bellow viết hai tiểu thuyết ngắn trong đó hai nhân vật chính đã luống tuổi đi tìm kiếm chân lý tối hậu: Một Cái Gì Đó Để Nhớ Về Tôi/Something To Remember Me By (1991) và Điều Có Thật/The Actual (1997).  Tiểu thuyết Ravelstein/Ravelstein (2000) của Bellow là câu chuyện kể kín đáo về cuộc đời người bạn Alan Bloom của tác giả, người đã viết quyển sách bán chạy nhất tựa đề Tâm Tư Người Mỹ Đã Khép Lại/The Closing of the American Mind (1987), một quyển sách có cái nhìn bảo thủ tấn công giới học thuật vì cho là họ đã làm mai một những tiêu chuẩn trong đời sống văn hóa Mỹ.
Tiểu thuyết ngắn xuất sắc tựa đề Hãy Nắm Giữ Ngày Ấy/Seize the Day (1956) của Bellow chủ yếu kể về một thương gia bị thất bại tên TommyWilhelm, một người cảm thấy mình không làm nên trò trống gì được cả đến nỗi ông thực sự trở thành hoàn toàn bại hoại -- thất bại với phụ nữ, trong công việc, đụng đến máy móc cũng bị hư, và đi vào thị trường hàng hóa thì mất tất cả tiền bạc.  Wilhelm trở thành thí dụ về một kẻ schlemiel trong truyện dân gian của người Do thái, một người luôn gặp điều không may.   

Bernard Malamud (1914-1986)
Bernard Malamud sinh tại thành phố New York, cha mẹ ông là di dân Do thái gốc Nga. Với quyển tiểu thuyết thứ hai của mình, Malamud đã tìm ra những chủ đề đặc thù cho mình  --cuộc đấu tranh sống còn của con người trước mọi nghịch cảnh và nền tảng đạo đức của những di dân Do thái thời gian gần đây.  Tác phẩm đầu tiên được xuất bản của Malamud là quyển Điều Tự Nhiên/The Natural (1952), một tiểu thuyết kết hợp vừa tả chân vừa hư cấu, có bối cảnh là thế giới huyền thoại của nghề chơi bóng rổ chuyên nghiệp.  Những tiểu thuyết khác của ông gồm Cuộc Sống Mới/A New Life (1961), Người Sửa Sai/The Fixer (1966), Những Bức Hình Của Fidelman/Pictures of Fidelman (1969), và Những Tên Chủ Nhà/The Tenants (1971).
Malamud là một nhà văn viết chuyện ngắn năng nổ.  Qua các truyện ngắn trong những tập truyện như Thùng Gỗ Thần/The Magic Barrel (1958), Kẻ Ngu Được Ưu Tiên/Idiots First (1963), và Chiếc Nón Của Rembrand/Rembrandt’s Hat (1973), hơn bất kỳ nhà văn sinh tại Mỹ nào khác, ông đã truyền đạt ý thức về sự hiện diện của người Do thái hiện nay và trong quá khứ, ý thức về sự thật và siêu thực, về sự thật và huyền thoại.
 Tác phẩm để đời của Malamud là Người Sửa Sai/The Fixer, đã đem lại cho ông giải Pulitzer và giải thưởng Sách Hay Toàn Quốc National Book Award. Với bối cảnh là nước Nga đầu thế kỷ 20, cuốn sách hé lộ cho chúng ta thấy phần nào một vụ ô nhục huyết thống có thật, đó là vụ xử Mendel Beiliss năm 1913 đầy tai tiếng, một vết nhơ đen tối bài xích người Do thái trong lịch sử hiện đại.  Giống như trong các tác phẩm khác của ông, Malamud nhấn mạnh nỗi đau khổ mà nhân vật chính Yakob Bok phải chịu đựng, và cuộc đấu tranh trước mọi nghịch cảnh mà ông trải nghiệm. 
-----
*
https://web.archive.org/web/20070630152642/http://www.saulbellow.org/NavigationBar/TheLibrary.html

Isaac Bashevis Singer (1904-1991)
Tiểu thuyết gia được giải Nobel văn chương và là nhà văn viết truyện ngắn xuất sắc Isaac Bashevis Singer gốc người Ba lan sang Mỹ năm 1935.  Ông là con của một luật gia đứng đầu tòa án xét xử theo Do thái giáo tại Warsaw.  Suốt đời ông chỉ viết bằng tiếng Do thái (Yiddish), dùng những từ ngữ vừa có tính huyền thoại vừa rất hiện thực, chủ yếu ông viết về hai nhóm người Do thái: nhóm Do thái định cư tại những ngôi làng nhỏ ở Cựu Thế giới (shtetls), và nhóm di dân vượt biển trước Thế chiến thứ II và sau chiến tranh.  Các tác phẩm của Singer đánh dấu sự bất đầu và sự kết thúc của nạn thảm sát người Do thái ở Âu châu (the Holocaust).  Một mặt, trong các tác phẩm như Điền Trang/The Manor (1967) và Bất Động Sản/The Estate (1969) có bối cảnh là nước Nga thế kỷ 19, và The Family Moskat (1950) nói về một gia đình Do thái gốc Ba lan giữa hai đại chiến,  ông mô tả một thế giới của những người Do thái ở Âu châu nay đã không còn nữa.  Mặt khác, bên cạnh đó là những tác phẩm ông viết lấy bối cảnh sau chiến tranh thế giới như Những Kẻ Thù/Enemies, Một Chuyện Tình/A Love Story (1972), với nhân vật chính là những người sống sót sau vụ tàn sát của phát xít, tìm cách dựng lại cuộc đời mới cho mình.

Vladimir Nabokov (1889-1977) 
Giống Singer, Vladimir Nabokov là người Đông Âu di cư sang Mỹ. Sinh ra trong một gia đình giàu có dưới thời Nga hoàng, ông sang Mỹ năm 1940 và được nhập tịch Mỹ 5 năm sau đó.  Từ năm 1948 đến năm 1959 ông dạy văn chương tại đại học Cornell, bang New York.  Năm 1960 ông dọn đến ở luôn tại Thụy sĩ  Ông được biết đến qua tự truyện Pnin (1957), kể về một giáo sư Nga di cư không thành công trong nghề giáo, và quyển Lolita (U.S. edition, 1958), câu chuyện về một người Âu châu trung niên mê say một cô gái Mỹ mới 12 tuổi.  Một thành công khác của ông là truyện phóng tác tựa đề Ngọn Lửa Nhạt/Pale Fire (1962) chủ yếu là một bài thơ dài của một nhà thơ tưởng tượng mình đã qua đời sáng tác, với lời bình phẩm của một nhà phê bình đã bóp nghẹt cả bài thơ và giết chết nhiều mạng người.
Nabokov là một nhà văn quan trọng vì nét tinh tế trong văn phong của ông, vì tài mỉa mai khéo léo, và những phát kiến mới mẻ, tinh xảo về mặt thể loại đã gợi hứng cho những nhà văn khác như John Barth.  Nabokov biết rõ vai trò của ông là người nối kết hai thế giới văn học Nga và Mỹ. Ông đã viết một quyển sách về Gogol và dịch tác phẩm Eugene Onegin.của Pushkin.  Những đề tài táo bạo phần nào mang khuynh hướng diễn tả cái nhìn chủ quan (expressionism)** đã góp phần giới thiệu các trào lưu tư tưởng Âu châu thế kỷ 20 vào tiểu thuyết Mỹ vốn nặng tính hiện thực.  Văn của ông, vừa mỉa mai vừa hoài cổ, cũng đã lưu lại vẻ vừa nghiêm trang vừa hài hước mới mẻ mà những nhà văn như Thomas Pynchon đã sử dụng khi kết hợp các giai điệu trái ngược nhau mang nét dí dỏm lẫn pha với sự sợ hãi.

-----
**
Phái Diễn đạt cảm xúc/Expressionism: một phong trào văn nghệ sĩ mang khuynh hướng hiện đại, bắt đầu từ giới thi sĩ và họa sĩ, xuất phát từ Đức vào đầu thế kỷ 20.  Né đặc trưng của phong trào này là trình bày thế giới chỉ theo lăng kính chủ quan, về cơ bản bóp méo nó để tạo hiệu ứng cảm xúc nhằm gợi lên tâm trạng hoặc ý tưởng tác giả muốn.
a modernist movement, initially in poetry and painting, originating in Germany at the beginning of the 20th century. Its typical trait is to present the world solely from a subjective perspective, distorting it radically for emotional effect in order to evoke moods or ideas.
-----
John Cheever (1912-1982)
 
John Cheever thường được gọi là "nhà văn phong cách." Ông được biết đến qua các truyện ngắn thanh nhã khiến người đọc phải suy nghĩ, những chuyện đào sâu tìm  hiểu thế giới doanh thương ở New York, qua các ảnh hưởng nó gây ra cho thương nhân, vợ con và bạn bè họ.  Truyện của ông thoáng nét buồn gượng và nỗi khát khao da diết gần như vô vọng khôn nguôi, và một sự chân thật mang tính siêu hình ẩn trong các câu chuyện đưược dệt nên tuyệt vời mang hơi hướm văn Chekov.  Chúng được tập hợp lại trong tác phẩm Cách Sống Của Một Số Người/The Way Some People Live (1943), Kẻ Đột Nhập Vào Ngôi Nhà ở Shady Hill*** (1958), Một Số Người, Địa Danh, và Sự Việc Sẽ Không Xuất Hiện Trong Quyển Tiểu Thuyết Kế Tiếp Của Tôi (1961), Ngài Thượng Tá**** và Người Quả Phụ Chơi Golf (1964), và Thế Giới Của Những Quả Táo (1973).  Tựa sách hé lộ cho ta thấy tính cách dửng dưng, đùa cợt, và chẳng kiêng nể ai của tác giả, đồng thời chúng cũng nói lên chủ đề tác giả muốn viết.  Ông cũng cho in nhiều tiểu thuyết như Vụ Xì Căn đanWapshot*****  (1964), Công Viên Bullet/Bullet Park (1969), và Nhà Tù Falconer Falcon/Falconer (1977) — quyển cuối cùng chủ yếu kể về cuộc đời của ông.

-----
 ***
https://www.newyorker.com/magazine/1956/04/14/the-housebreaker-of-shady-hill 
**** 
Tại nhiều nước, nhất là các nước trước đây thuộc đế chế Anh, thượng tướng/brigadier là quân hàm sĩ quan cao nhất hay gần cấp thiếu tướng, thường điều khiển một lữ đoàn.  Brigadier trên cấp đại tá nhưng thấp hơn thiếu tướng.   
In many countries, especially those formerly part of the British Empire, a brigadier is either the highest field rank or most junior general appointment, nominally commanding a brigade. It ranks above colonel and below major general.
*****
https://en.wikipedia.org/wiki/The_Wapshot_Scandal
Vụ Xì Căn đanWapshot (1964) là tiểu thuyết của John Cheever, tiếp theo tác phẩm Biên Niên Sử Wapshot (1957) được trao Giải Tiểu Thuyết Toàn Quốc Mỹ (1958). 
Đây là tiểu thuyết thứ hai của Cheever được xuất bản, và đoạt huy chương William Dean Howells năm 1965.  Tựa đề nói về vụ xì căn đan có liên quan đến một trong số các người vợ trong gia tộc Wapshot, một gia tộc lập dị sống tại một ngôi làng đánh cá ở tiểu bang Massachusetts.  Bà vợ này đã bỏ trốn với một thanh niên 19 tuổi phụ xếp hàng vào giỏ cho khách tại siêu thị A&P, một chuỗi siêu thị vận hành tại Mỹ từ năm 1859 đến năm 2015, để làm lại cuộc đời với anh ta tại Ý.  
The Wapshot Scandal is a novel by American writer John Cheever, a follow-up to his National Book Award-winning The Wapshot Chronicle. It was Cheever's second published novel, and won the William Dean Howells Medal in 1965. The scandal of the title involves one of the Wapshot wives running off with a 19-year-old bagboy from the local A&P and making a life with him in Italy.  

Friday, January 8, 2021

Chương VIII:Văn Xuôi Mỹ 1945-1990: Chủ Nghĩa Hiện Thực và Văn Xuôi Thử Nghiệm --Phần 3

Thập Niên 1950
Những năm 1950 chứng kiến ảnh hưởng kéo dài của công cuộc hiện đại hóa và kỹ thuật hóa trong đời sống thường nhật. Thế chiến thứ hai không chỉ đánh bại phát xít mà còn đưa nước Mỹ ra khỏi thời Suy thoái, và những năm này đã đem lại thời kỳ hưởng thụ giàu có về vật chất mà nước Mỹ đã mong đợi từ lâu.  Doanh nghiệp, nhất là các công ty, dường như đem đến một đời sống tốt đẹp (nhất là ở v̀ung ngoại ô), đánh dấu qua các thành tựu thật sự cũng như qua hình ảnh nhà lầu, xe hơi, tivi, và các đồ dùng trong nhà.
Nhưng trên hết nỗi cô đơn vẫn là đề tài chủ yếu cho nhiều nhà văn; những kẻ vô danh làm việc nơi công ty trở thành mẫu người cho một nền văn hóa xuất hiện qua tiểu thuyết bán chạy nhất của Sloan Wilson tựa đề Người Đàn Ông Mặc Áo Khoác Nỉ Màu Xám /The Man in the Gray Flannel Suit (1955). Tình trạng sống cách ly cô lập của đa số người Mỹ đã được nhà xã hội học David Riesman mổ xẻ trong tác phẩm Đám Đông Cô Đơn/ The Lonely Crowd (1950).
Tiếp theo là những nghiên cứu được nhiều người đọc ít nhiều mang tính khoa học, từ  Những Người Thuyết Phục Ần Mặt/The Hidden Persuaders (1957) và Những Kẻ Săn Tìm Địa Vị/The Status Seekers (1959) của Vance Packard đến tác phẩm Người Của Tổ Chức/The Organization Man (1956) của William Whyte, và các sách góp phần mở mang kiến thức của C. Wright Mills như Nhân Viên Văn Phòng /White Collar (1951) va Tầng Lớp Thượng Lưu Quyền Thế/The Power Elite (1956).  Nhà kinh tế học giả John Kenneth Galbraith cũng đã góp mặt với quyển sách tựa đề Xã Hội Người Giàu/The Affluent Society (1958).
Đa phần loại sách này đều nói lên mẫu gia đình xuất hiện vào những năm 1950, chúng cho thấy tất cả người Mỹ đều có một nếp sống giống nhau.  Các nghiên cứu nói trên chỉ mang tính khái quát, chỉ trích người Mỹ dần dần mất đi cá tính của vùng biên cương và trở thành rập khuôn như nhau (thí dụ như trong sách của Riesman và Mills), chúng khuyên người Mỹ hãy trở thành thành viên của "Giai cấp mới" (nói theo ngôn từ của Galbraith), một giai cấp xuất hiện nhờ công nghệ và nhờ có thì giờ rảnh rỗi. 
Về mặt văn học, thập niên 1950 lại là những năm của bất an sâu xa và tràn lan.  Các tiểu thuyết của John O’Hara, John Cheever, và John Updike tìm hiểu nỗi căng thẳng ẩn khuất dưới vẻ thỏa mãn bề ngoài.  Một số  truyện trong những tiểu thuyết hay nhất mô tả những người bị thất bại trong khi tranh đấu để được thành công như vở kịch Cái Chết Của Người Bán Hàng/Death of a Salesman của Arthur Miller, hay tiểu thuyết ngắn tựa đề Hãy Nắm Giữ Ngày Hôm Nay/ Seize the Day của Saul Bellow.  Nhà văn người Mỹ da đen Lorraine Hansberry (1930-1965) phơi bày nạn kỳ thị chủng tộc vẫn còn âm ỉ qua vở kịch cảm động năm 1959 của bà tựa đề Hạt Nho Khô Dưới Ánh Mặt Trời/ A Raisin in the Sun, trong đơ một gia đình da đen đã phải chạm trán với "Ủy ban tiếp tân" đón tiếp họ với vẻ hăm dọa khi họ dọn vào ở ttrong khu phố người da trắng. 
Một số nhà văn đi xa hơn khi tập trung mô tả các nhân vật sống ngoài xã hội dòng chính, như
tác phẩm Người Bắt Trẻ Trên Cánh Đồng Loã Mạch/ The Catcher in the Rye* của J.D. Salinger, Người Đàn Ông Vô Hình/Invisible Man của Ralph Ellison, và Lên Đường/On the Road của Jack Kerouac.  Vào những năm cuối thập kỷ 1950, Philip Roth xuất hiện với một loạt những truyện ngắn phản ánh sự ly khai của ông tách khỏi di sản Do thái (như qua truyện Goodbye, Columbus).  Cách suy tư về tâm lý học được ông nghiền ngẫm nhiều và trở thành chất liệu cho tiểu thuyết, và sau đó là tự truyện, trong niên kỷ này.  Tiểu thuyết của những nhà văn Mỹ gốc Do thái như Bellow, Bernard Malamud, và Isaac Bashevis Singer --nằm trong số những nhà văn nổi bật nhất vào thập niên 1950 và những năm về sau- là những đóng góp thuyết phục và đáng kể vào bức tranh chung của nền văn học Mỹ.  Thành quả đáng ghi nhận của ba nhà văn này là nét hài hước, mối quan tâm về vấn đề đạo đức, và việc mô tả các cộng đồng Do thái ở Cựu thế giới và Tân thế giới.
John O’Hara (1905-1970) 

Tuy được đào tạo để trở thành nhà báo. John O'Hara lại là một tác giả năng nổ viết kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết.  Ông có tài sử dụng chi tiết một cách cẩn thận để diễn đạt thật nhiều ý tưởng, và ông được ái mộ qua nhiều tiểu thuyết hiện thực được sáng tác vào những năm 1950, nói về những người bề ngoài thành công nhưng lại phạm lỗi lầm và có nhiều chuyện bất như ý trong lòng.  Đấy là những tác phẩm Cuộc Hẹn Tại Samarra/Appointment in Samarra (1934), Nhà Số 10 Bắc Đường Frederick/Ten North Frederick** (1955), và Từ Nơi Hàng Hiên /From the Terrace (1959)  

James Baldwin (1924-1987)
James Baldwin và Ralph Ellison phản ánh những kinh nghiệm người Mỹ đen trải qua trong những năm 1950.  Các nhân vật của hai tác giả này đau khổ vì thiếu mất danh tính (vì không biết mình là ai trong xã hội),  mà không phải vì quá tham vọng.  Balwin là con cả trong một gia đình có 9 người con sống tại Harlem, New York.  Thời trẻ, Balwin thỉnh thoảng cố gắng giảng đạo trong nhà thờ.  Kinh nghiệm này giúp ông hình thành phong cách hành văn giống như văn nói rất thuyết phục, thể hiện xuất sắc qua bài nghị luận "Lá thư từ vùng tâm thức của tôi/“Letter From a Region of My Mind,” trích từ tuyển tập Đám Cháy Kế Tiếp/The Fire Next Time (1963), qua đó ông đã biện luận cho việc phải đi đến chỗ kết thúc nạn phân biệt chủng tộc một cách rất cảm động.
Tiểu thuyết đầu tiên của Balwin, một quyển tự truyện tựa đề Hãy Lên Núi Kể Chuyện Ấy/Go Tell It on the Mountain (1953), có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông.  Chuyện kể về một cậu bé 14 tuổi tự tìm hiểu chính mình và niềm tin tôn giáo trong khi cậu đang có những trăn trở với các vấn đề theo đạo Ky tô tại một nhà thờ lập nên từ cửa hiệu trong vùng*** Các tác phẩm quan trọng khác của  Balwin gồm Một Xứ Sở Khác/Another Country (1962) và Không Ai Biết Tên Tôi/Nobody Knows My Name (1961), tập hợp những bài nghị luận của ông về nạn phân biệt chủng tộc, vai trò của nghệ sĩ và văn chương.
Ralph Ellison (1914-1994)
Ralph Ellison ra đời tại bang Oklahoma, miền Trung tây và theo học tại Viện Tuskegee miền Nam nước Mỹ.  Ông có một sự nghiệp kỳ lạ nhất trên văn đàn Mỹ --chỉ có một quyển sách rất được tán dương và gần như chỉ có vậy. Quyển tiểu thuyết tựa đề Người Đàn Ông Vô Hình/Invisible Man (1952), kể về một người đàn ông da đen sống dưới mặt đất trong một tầng hầm thấp sáng bằng điện câu lén từ công ty điện.  Quyển sách kể lại những kinh nghiệm kỳ quái và bất như ý của anh ta.  Khi đạt được học bổng để đến học tại một đại học dành cho người da đen, anh ta bị người da trắng khinh miệt; đến lúc anh vào đại học, anh chứng kiến ông hiệu trưởng nói lời coi thường điều người Mỹ quan ngại.  Khi ông ra trường đại học, cuộc sống đầy nhiễu nhương, tham nhũng.  Chẳng hạn, ngay cả tôn giáo cũng không còn là niềm an ủi cho anh ta: linh mục lại là một tên tội phạm.  Quyển sách lên án xã hội đã không đem đến cho người dân, cả da trắng lẫn da đen, những lý tưởng khả thi, cùng các định chế giúp thực hiện những lý tưởng ấy.  Tác phẩm là biểu tượng hùng hồn cho chủ đề phân biệt chủng tộc, vì "người đàn ông vô hình" không phải vì tự thân anh ta vô hình, mà vì, những người khác, bị mù tối vì định kiến, không thấy được anh ta.
Ngay 19 thang Sau/Juneteenth (1999),****quyển tiểu thuyết không đầu đuôi, dở dang của Ellison, được hiệu đính sau khi ông qua đời, cho thấy ông vẫn quan tâm đến vấn đề chủng tộc và danh tính.   
Flannery O’Connor (1925-1964)
Flannery O’Connor, nguyên quán Georgia, qua đời sớm vì bệnh lupus, một căn bệnh về máu. Tuy vậy bà vẫn không ủy mỵ, như chúng ta có thể thấy qua các truyện giàu tính hài hước, tuy ảm đạm, và không khoan nhường của bà.  Khác với Katherine Anne Porter, Eudora Welty, và Zora NealeHurston, O’Connor thường đứng xa mô tả nhân vật của mình, và cho người đọc thấy sự yếu kém và ngu ngốc của họ.  Những nhân vật miền nam thất học trong truyện của bà thường gây ra bạo động dưới hình thức mê tín hay tôn giáo, như trong truyện Dòng Máu Trí Tuệ/Wise Blood (1952), nói về một kẻ cuồng tín lập ra nhà thờ riêng của mình.
Đôi khi bạo động phát sinh từ thành kiến, như trong truyện ngắn "Kẻ Lạc Loài"/“The Displaced Person” (1955), nói về một người di dân bị người dân miền quê thất học giết chết vì sợ cách làm ăn siêng năng và phong cách kỳ lạ của người ấy.  Thường những biến cố tàn bạo tự nhiên xảy đến cho nhân vật, như trong truyện "Những Người Dân Quê Tốt Bụng"/“Good Country People” (1955), kể về một cô gái bị một tên đàn ông dụ dỗ chỉ để đánh cắp chân giả của cô. Văn phong hài hước về những đề tài bức xúc của O’Connor nối kết bà với các tác giả Nathanael West và Joseph Heller.  Các tác phẩm của bà gồm những tập truyện ngắn Người Tốt Khó Tìm/A Good Man Is Hard To Find (1955),  Mọi Thứ Nhô Len Đều Phải Hội Tụ Lại/Everything That Rises Must Converge (1965), quyển tiểu thuyết Kẻ Bạo Động Phải Gánh Chịu Thôi/ The Violent Bear It Away (1960); và một quyển sách gồm các lá thư của bà tựa đề Thói Quen Tồn Tại/The Habit of Being (1979). Truyện Ngắn Toàn Tập/The Complete Stories xuất hiện năm 1971.
 
------
*

Nhóm từ "người bắt trẻ trên cánh đồng loã mạch" lấy từ một bài thơ của Robert Burns tựa đề "Đến Từ Đồng Lõa Mạch"/“Comin’ Thro the Rye,” mà Holden hình dung như một cánh đồng lõa mạch thật sự nằm bên vực thẳm.  Khi Phoebe hỏi Holden anh muốn làm nghề gì khi lớn lên, anh trả lời "làm người bắt trẻ giữa đồng lúa lõa mạch"--làm người mà anh tưởng tượng có trách nhiệm "bắt" những trẻ ngoài đồng trước khi chúng "sắp rơi xuống vực."  Cánh đồng trong trí tưởng tượng của Holden không chứa những suy nghĩ và thói giả tạo của người lớn. Cánh đồng gợi nhớ Neverland của Peter Pan hoặc Vườn Địa Đàng, cả hai đều là cõi nơi những người ngây thơ vô tội được bảo vệ không bị ảnh hưởng tha hóa từ kinh nghiệm sống.  Ngược lại, hình ảnh rơi xuống từ vách đá dốc tượng trưng cho việc "rơi" vào thế giới người lớn, nghĩa là, vào chỗ nhục dục, tham lam, chạy theo danh vọng, và "giả dối." Ngôn ngữ ở đây mang âm hưởng sự tích Adam và Eve bị sa đọa trong Kinh thánh, họ bị đuổi ra khỏi vườn Địa đàng sau khi bừng tỉnh thấy mình phạm tội và xấu hổ vì ái dục --một nỗi xấu hổ mà Holden cũng cảm nhận thấy.

The line about a catcher in the rye is taken from a Robert Burns poem, “Comin’ Thro the Rye,” which Holden envisions as a literal rye field on the edge of a cliff. When Phoebe asks Holden what he wants to be when he grows up, he answers “the catcher in the rye” – a person he imagines as responsible for “catching” children in the field before they “start to go over the cliff.” The field of Holden’s fantasy is free of adult ideas and artificiality. The field is reminiscent of Peter Pan’s Neverland or the Garden of Eden, both of which are realms that protect innocence from the corrupting influence of experience. By contrast, the fall from the cliff represents the “fall” into adulthood—that is, into lust, greed, ambition, and “phoniness.” The language here echoes the Biblical fall of Adam and Eve, who were exiled from the garden after their awakening to sin and the shame of sexuality—a shame that Holden also feels.

https://www.sparknotes.com/lit/catcher/central-idea-essay/what-does-the-title-mean/
**

 ***
Nhà thờ mặt tiền cửa hiệu mặt tiền là nhà thờ nằm trong một tòa nhà có cửa hiệu nơi mặt tiền.  Những tòa nhà này thường được gọi là "Nhà thờ mặt tiền cửa hiệu," vì chúng là những tòa nhà trước đây là nơi mua bán, nhưng sau đó được dùng cho tôn giáo.
A storefront church is a church housed in a commercial storefront building. These buildings are often called "Storefront Churches" because they are buildings that were previously commercial properties that have been converted to a religious use.
****
Một ngày lễ nước Mỹ kỷ niệm ngày19 tháng 6 năm 1865, ngày tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ ở Texas, và nói chung là ngày giải phóng nô lệ da đen tại các tiểu bang Liên minh miền Nam, ngoài vùng đất của người da đỏ.  Texas lúc ấy là tiểu bang xa xôi nhất có nô lệ và bản Tuyên Ngôn Giải phóng nô lệ ra đời ngày 1 tháng Giêng năm 1863 vẫn chưa được áp dụng tại đó mãi sau khi Liên minh miền Nam sụp đổ.  Tên ngày lễ là sự kết hợp giữa chữ "June" và chữ "nineteenth," ngày người Mỹ ăn mừng lễ. 
 
an American holiday that commemorates the June 19, 1865, announcement of the abolition of slavery in Texas, and more generally the emancipation of enslaved African Americans throughout the former Confederate States of America, outside Native American lands. Texas was the most remote of the slave states, and the Emancipation Proclamation of January 1, 1863 was not enforced there until after the Confederacy collapsed. The name of the observance is a portmanteau of "June" and "nineteenth" ("Juneteenth"), the date of its celebration.
*****
Hài kịch của người da đen, còn được biết với tên hài hước da đen, hài kịch đen hoặc là hài châm biếm, là một phong cách hài của người da đen đem ra giễu cợt những đề tài thường bị cấm kỵ, nhất là những đề tài thường được xem là nghiêm túc hoặc đau thương, để cười chế nhạo.
Black comedy, also known as black humor, dark comedy, dark humor or gallows humor, is a comic style that makes light of subject matter that is generally considered taboo, particularly subjects that are normally considered serious or painful to discuss.