Tuesday, February 16, 2021

Chương VIII:Văn Xuôi Mỹ 1945-1990: Chủ Nghĩa Hiện Thực và Văn Xuôi Thử Nghiệm --Phần 8

Những Nhà Văn Miền Nam
Giống như miền Nam vẫn còn thiên nhiều về nông nghiệp thời bấy giờ, tác phẩm của các nhà văn miền Nam trong thập niên 1960 có khuynh hướng bám sát các truyền thống vốn được trân trọng từ lâu.  Trong thập kỷ có những thay đổi cấp tiến ấy, văn học miền Nam tiếp tục bám rễ vào chủ nghĩa hiện thực với cái nhìn mang tính đạo đức, nếu không muốn nói là nặng về tôn giáo,  Những chủ đề thường thấy trong văn học miền Nam gồm gia đình, mái ấm gia đình, lịch sử, phong thổ miền Nam, tôn giáo, tội lỗi, danh tính, cái chết, và việc đi tìm ý nghĩa cứu rỗi cho sự sống.  Giống William Faulkner và ThomasWolfe  (qua các tiểu thuyết Hỡi Thiên Thần, Xin Ngài Hãy Nhìn Về Quê Nhà /Look Homeward, Angel 1929), những nhà văn đã dấy lên phong trào "phục hưng" cho văn học miền Nam, nhiều nhà văn miền Nam vào những năm 1960 là học giả và văn sĩ có lối văn trau chuốt, coi trọng ngôn ngữ xem đó là gạch nối với truyền thống vốn đã ăn sâu trong thế giới cổ điển.
Nhiều tác giả từng là giáo sư có ảnh hưởng lớn. Caroline Gordon (1895-1981), sinh trưởng tại Kentucky lập gia đình với nhà thơ miền Nam Allen Tate, một giáo sư đại học dạy viết văn rất được kính trọng.  Bà chọn quê hương Kentucky làm bối cảnh cho tiểu thuyết của mình.  Truman Capote sinh ra ở New Orleans, và thời ấu thơ sống ở các thị trấn nhỏ của tiểu bang Louisiana và Alabama, dùng làm bối cảnh cho các tiểu thuyết đầu tay của ông mang nhiều phong cách sành điệu nhưng suy đồi và Gothic đậc trưng của miền Nam.  Giáo sư dạy viết người Mỹ đen  Ernest Gaines (1933- ) cũng sinh ra tại New Orleans đã đặt bối cảnh cho nhiều tác phẩm cảm động và sâu sắc của mình vào vùng quê đầm lầy nước đọng nơi nhiều người da đen cư ngụ ở Louisiana.  Có lẽ quyển tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông, tác phẩm Tự Truyện Của Cô Jane Pittman /The Autobiography of Miss Jane Pittman (1971), đã phản ánh một loạt các biến cố xảy ra từ khi nội chiến Mỹ kết thúc năm 1865 sang những năm 1960.  Quan tâm nhiề̀u đến các vấn đề con người sâu kín hơn cả vấn đề màu da, Gaine đã đề cập đến các mối quan hệ giữa những sắc dân khác nhau một cách rất tinh tế.
Reynolds Price (1933- ), một giáo sư kỳ cựu ở Duke University, sinh ra ở North Carolina, nơi đã cung cấp bối cảnh cho nhiều tác phẩm của ông như Một Đời Dài Lâu Hạnh Phúc/A Long and Happy Life (1961).  Giống William Faulkner và Robert Penn Warren, trên mảnh đất miền Nam, ông đã dựng lên những nhân vật có liên hệ huyết thống với nhau, thường hay ngồi trầm tư nhìn tháng ngày trôi qua và nghĩ về việc cần phải chuộc lại những lỗi lầm sai trái ngày xưa.  Văn phong đầy suy niệm và giàu chất thơ của ông gợi nhớ lại truyền thống văn cổ điển của miền Nam thời xưa.  Bị liệt một phần não vì ung thư, ông đã đào sâu tìm tòi nỗi đau thể xác qua tác phẩm Lời Hứa Hẹn Sẽ Được An Nghỉ/The Promise of Rest (1995), câu chuyện về một người cha chăm sóc đứa con trai sắp chết vì bệnh AIDS.  Tiểu thuyết được đánh giá cao của ông tựa đề Kate Vaiden (1986) cho thấy ông còn có khả năng xây dựng hình ảnh cuộc sống của phụ nữ.
Walker Percy (1916-1990), sống tại Louisiana, lớn lên trong một gia đình gốc quý tộc miền Nam.  Nhưng tiểu thuyết được nhiều người ái mộ của ông --khi hài hước, lúc chứa đựng tình cảm nhẹ nhàng, khi lại giảng đạo đức và châm biếm-- cho thấy ông ý thức rõ về giai cấp xã hội và về việc ông theo Ky tô giáo.  Tiểu thuyết hay nhất của ông là tác phẩm đầu tay tựa đề Người Đi Xem Xi nê/The Moviegoer (l961). Truyện kể về một người đại diện mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoáng trẻ tuổi sống lông bông không định hướng ở New Orleans, cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh Pháp lan đến miền Nam Mới nổi lên phồn vinh và náo nhiệt sau thế chiến thứ hai. 
Những Thập Niên 1970 và 1980: Văn Học Phát Triển Vững Mạnh
Tính đến giữa thập kỷ 1970 một kỷ nguyên văn học phát triển vững vàng đã bắt đầu.  Cuộc xung đột về chiến tranh Việt nam đã kết thúc, chẳng bao lâu sau Mỹ bắt tay với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và tổ chức kỷ niệm 200 năm thành lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.  Rồi đến thập niên 1980 --"Thập niên về Cái Tôi" như Tom Wolf nói-- khi cá nhân thường hay tập trung vào những mối bận tâm riêng của mình hơn là vào những vấn đề lớn của xã hội.  Trong văn học, những trào lưu cũ vẫn còn, nhưng động lực thúc đẩy việc tìm tòi thử nghiệm đã suy giảm.  Những nhà văn mới như John Gardner, John Irving (Thế Giới Qua Cách Nhìn Của Garp/The World According to Garp, 1978), Paul Theroux (Bờ Biển Của Muỗi/The Mosquito Coast,**1981), William Kennedy (Cỏ Sắt/Ironweed, 1983), và Alice Walker (Màu Tím/The Color Purple, 1982) nổi bật lên với những tiểu thuyết có văn phong xuất sắc miêu tả tình cảnh con người rất cảm động.  Các nhà văn lại quan tâm nhiều hơn đến bối cảnh, nhân vật và chủ đề gắn liền với chủ nghĩa hiện thực, cùng việc khai thác các đề tài lịch sử như trong tác phẩm của E.L.Doctorow.  
Chủ nghĩa hiện thực, bị các nhà văn thử nghiệm bỏ rơi vào thập niên 1960, dần dần trở lại, thường pha trộn với những yếu tố mới mẻ riêng của tác giả, rất độc đáo --chẳng hạn bố cục táo bạo lồng một tiểu thuyết vào trong một tiểu thuyết khác, như tác phẩm Ánh Sáng Tháng Mười/October Light của John Gardner hoặc sử dụng phương ngữ của người da đen như trong truyện Màu Tím/The Color Purple của Alice Walker. Dòng văn học của các nhà văn thiểu số/da màu bắt đầu phát triển. Kịch nghệ cũng chuyển từ tả chân hiện thực sang giống như điện ảnh và di động nhiều hơn. Tuy vậy, đồng thời thập niên nói nhiều đến cái tôi này cũng phản ảnh những tài năng mới sôi động như Jay McInerney (Ánh Đèn Sáng Loáng, và Thành Phố Lớn/Bright Lights, Big City, 1984), Bret Easton Ellis (It́ Hơn Cả Số Không/LessThan Zero,1985), và Tama Janowitz (Những Nô Lệ Của New York/Slaves of New York,1986).
E.L. Doctorow (1931- )
Tiểu thuyết của Doctorow cho thấy sự chuyển hướng từ tiểu thuyết metafiction***(tiểu thuyết nói về tiểu thuyết) sang loại tiểu thuyết mới nhạy cảm với các vấn đề của con người hơn.  Quyển tiểu thuyết được hoan nghênh nhiệt liệt của ông về cái giá nhân mạng phải trả quá cao trong chiến tranh lạnh mang tựa đề Quyển Sách Về Daniel/The Book of Daniel (1971) dựa trên vụ xử tử  Julius và Ethel Rosenberg về tội gián điệp, do  con của họ kể lại khi đang chịu tang cha mẹ mình.  Tác phẩm Nỗi Nhức Nhốỉ Trước Dư Luận/The Public Burning của Robert Coover cũng nói về chủ đề tương tự, nhưng truyện của Doctorow chan chứa tình cảm nồng ấm hơn nhiều.  
Tác phẩm  Điệu Nhạc Ragtime/Ragtime**** (1975) của Doctorow là một bức tranh ghép hình collage muôn màu muôn sắc rất phong phú về nước Mỹ bắt đầu từ năm 1906.  Như  John Dos Passo đã làm nhiều thập niên trước qua tập tiểu thuyết gồm ba tập trilogy tựa USA của ông, Doctorow đã phối hợp nhân vật hư cấu với nhân vật có thật để ghi lại hương vị và nét phức tạp của thời đại ông mô tả.  Lịch sử hư cấu về nước Mỹ được Doctorow tiếp tục trình bày qua tác phẩm Hồ Ngỗng Trời/Loon Lake (1979), lấy bối cảnh những năm 1930, nói về một nhà tư bản tàn bạo đã thống trị và hủy diệt những người sống có lý tưởng.
Những tác phẩm về sau của Doctorow gồm quyển tự truyện Hội Chợ Thế Giới/World’s Fair (1985), kể chuyện một đứa bé 8 tuổi lớn lên trong thời kỳ Khủng hoảng kinh tế của những năm 1930; Billy Bathgate (l989), mô tả lại một tên trùm xã hội đen có thật ở New York lấy tên là Dutch Schultz; và Công Ty Cấp Nước/The Waterworks (1994), lấy bối cảnh New York vào thập niên 1870.  Thành Phố Của Thượng Đế/City of God (2000) — tựa đề hàm ý nói về Thánh Augustine — trở lại mô tả thành phố New York hiện nay.  Lương tri của một giáo sĩ đan kết với tình trạng nghèo đói, tội phạm, và cô đơn nói chung của thành phố được phơi bày qua câu chuyện về cuộc đời của những người ông tiếp xúc.  Quyển sách ngầm nói lên niềm tin lâu dài của Doctorow cho rằng viết văn --một cách làm nhân chứng cho sự thật-- là phương thức sống còn của loài người.
Văn của Doctorow rất rộng thoáng.  Phong cách sinh động và đầy sáng tạo mới mẻ của ông đã liên kết ông với những nhà văn siêu tiểu thuyết (metafiction writers) như Thomas Pynchon và John Barth, tuy tiểu thuyết của Doctorow vẫn bám sát vào hiện thực và lịch sử.  Việc ông sử dụng người và sự kiện có thật đã gắn liền ông với nền Báo Chí Mới (new journalism) trong những thập niên 1960, và với Norman Mailer, Truman Capote, và Tom Wolfe, trong khi việc ông dùng cách viết hồi ký hư cấu như trong tác phẩm Hội Chợ Thế Giới/World’s Fair đã đưa ông đến gần những nhà văn như Maxine Hong Kingston và việc các hồi ký nở rộ vào những năm 1990.

-----   
*
https://en.wikipedia.org/wiki/Bayou
**
Bờ biển Muỗi, còn được biết đến với tên bờ biển Miskito và Vương quốc Miskito, về mặt lịch sử bao gồm vùng đất không xác định rõ dọc bờ biển phía đông của Nicaragua và Honduras.  Nó làm thành một phần của vùng đất Tây Caribbean.
The Mosquito Coast, also known as the Miskito Coast and the Miskito Kingdom, historically included the kingdom's fluctuating area along the eastern coast of present-day Nicaragua and Honduras. It formed part of the Western Caribbean Zone.
***
Tiểu thuyết về tiểu thuyết: loại tiểu thuyết trong đó tác giả chủ ý nói đến tính hư cấu dàn dựng và tính đặc thù văn học của một tác phẩm bằng cách nhại lại hoặc bỏ không tiuân theo các quy ước viết tiểu thuyết (nhất là chủ nghĩa tự nhiên) và các thủ pháp truyền thống.
Tiểu thuyết về tiểu thuyết là dạng văn hư cấu nhấn mạnh cách bố cục của chính nó qua cách liên tục nhắc cho người đọc nhớ là họ đang đọc hoặc đang xem một tác phẩm hư cấu.
Metafiction: fiction in which the author self-consciously alludes to the artificiality or literariness of a work by parodying or departing from novelistic conventions (especially naturalism) and traditional narrative techniques. 
Metafiction is a form of fiction that emphasizes its own constructedness in a way that continually reminds the reader to be aware that they are reading or viewing a fictional work. Wikipedia 
****
  Nhạc rag – chữ ragtime còn được viết rag-time hoặc rag time – là một loại nhạc được thịnh hành nhất từ năm 1895 đến năm 1919.  Nét đặc trưng của nhạc này là nhịp "ragged," tức là có một yếu tố nhịp điệu mới được thêm vào nhịp điệu vốn có sẵn trong bài nhạc.  Nhạc rag kể chuyện về ba nhóm người ở Mỹ: người Mỹ da đen mà nhạc sĩ vùng Harlem tên Coalhouse Walker Jr. là người đại diện, những người dân khá giả sống ở ngoại ô,  mà tiêu biểu là Bà Mẹ, một bà gia trưởng quyền uy của một gia đình da trắng thượng lưu tại New Rochelle, New York; và những di dân từ Đông Âu đến Mỹ.
 
Ragtime – also spelled rag-time or rag time – is a musical style that enjoyed its peak popularity between 1895 and 1919. Its cardinal trait is its syncopated or "ragged" rhythm. 
Set in the early 20th century, Ragtime tells the story of three groups in the United States: African Americans, represented by Coalhouse Walker Jr., a Harlem musician; upper-class suburbanites, represented by Mother, the matriarch of a white upper-class family in New Rochelle, New York; and Eastern European immigrants, 

[Syncopation is a musical process that involves adding an unexpected element to the basic beat of a musical composition. Basically, the art of syncopation calls for developing a line of rhythm that is played off the main beat line, creating an effect that provides the listener with a sense of enjoying a beat within a beat.  "Rag" is shorthand for ragged time, a syncopated rhythm that blends march tempos, minstrel-show music and a melody deliberately broken up to play in choppy passages over a steady sustaining beat.]

 

Sunday, February 7, 2021

Chương VIII: Văn Xuôi Mỹ 1945-1990: Chủ Nghĩa Hiện Thực và Văn Xuôi Thử Nghiệm --Phần 7

Thomas Pynchon (1937- )
Thomas Pynchon, một tác giả bí ẩn và tránh xuất hiện trước công chúng, sinh tại tiểu bang New York và tốt nghiệp đại học Cornell năm 1958, ở đó có thể ông đã chịu ảnh hưởng của Vladimir Nabokov.  Chắc hẳn trí tưởng tượng mới lạ độc đáo của ông cố sử dụng những chủ đề giải thích các manh mối, các trò chơi, mã số được lấy ra từ Nabokov.  Giọng văn uyển chuyển của Pynchon có thể lên bổng xuống trầm, khi to khi nhỏ biến ý tưởng hoang đường cuồng loạn thành thi ca.
Tất cả những tiểu thuyết của Pynchon đều có bố cục tương tự nhau.  Chí ít một trong số những nhân vật chính không hề biết cốt truyện mở rộng thênh thang sẽ diễn ra sao, và nhiệm vụ của nhân vật là đem lại trật tự cho hỗn độn và giải mã thế giới.  Phương cách này, nói một cách chính xác là công việc của người nghệ sĩ theo truyền thống, cũng được trao cho người đọc là người phải theo sát câu truyện để tìm ra manh mối và ý nghĩa.  Cách nhìn hoang tưởng này lan rộng ra nhiều đại lục và qua cả nhiều thời gian bởi vì Pynchon đã sử dụng ẩn dụ về sự hỗn loạn, tức là sự xuống dốc từ từ của toàn bộ vũ trụ. Các tác phẩm của ông cho thấy ông là bậc thầy về việc sử dụng văn hóa quần chúng —nhất là trong tiểu thuyết khoa hoc giả tưởng và tiểu thuyết trinh thám.
Tác phẩm V (1963) của Pynchon được xây dựng sơ sài quanh nhân vật Benny Profane, một người thất bại lang thang vô định, làm đủ thứ công việc kỳ dị, với một người khác hẳn anh ta là anh chàng có học thức tên Herbert Stencil, người đi tìm kiếm một nữ gián đieệ bí ẩn có tên V (một tên gọi khác cho Venus, Virgin, Void)Khóc Cho Lô Đấu Giá Số 49/Crying Over Lot 49 (1966), tác phẩm ngắn, nói về một hệ thống bí mật có liên hệ đến ngành bưu chính Mỹ.  Cầu Vồng Của Trọng Lực/Gravity’s Rainbow (1973) xảy ra tại London trong thế chiến thứ hai, khi người ta nả pháo vào thành phố, và kể về cuộc càn quét truy lùng bọn Đức quốc xã và những nhân vật giả trang khác, mang tính khôi hài và tượng trưng.
Trong tiểu thuyết hài tựa đề Miền Đất Trồng Nho/Vineland (l990), có bối cảnh miền bắc California, những lực lượng mờ ám trong các cơ quan chính phủ trung ương đe dọa mọi  ca nhan.  Trong tiểu thuyết Mason & Dixon (1997), lấy một phần bối cảnh là miền đất hoang dã của năm 1765,  hai nhà thám hiểm người Anh đi trắc địa con đừơng về sau trở thành lằn ranh phân chia Nam và Bắc Mỹ.  Một lần nữa Pynchon cho thấy uy quyền được vận dụng một cách bất công.  Dixon đã hỏi: "Dù đi đâu chăng nữa, chúng ta có sẽ tìm thấy tất cả những tên bạo chúa và nô lệ trên thế giới không?"  Bất chấp tầm rộng lớn về các vấn đề mà tác phẩm của Pynchon đề cập, bạo động, hài hước và nét độc đáo mới mẻ tất yếu đã nối kết Pynchon với những năm 1960.
John Barth (1930- ) 
John Barth, người gốc tiểu bang Maryland, quan tâm nhiều đến cách kể chuyện hơn là chính câu chuyện.  Nhưng trong khi Pynchon gây ảo tưởng cho đọc giả bằng cách đưa họ vào những con đường sai lệch và dùng những manh mối có thể xảy ra trong truyện trinh thám, thì Barth lại dẫn dụ người đọc vào một tòa nhà lễ hội vui nhộn đầy những tấm gương soi dị dạng, thổi phồng thêm một số đặc điểm đồng thời làm giảm thiểu những đặc điểm khác.  Hiện thực chủ nghĩa bị Barth ghét nhất.  Ông là tác giả của tập truyện Lạc Trong Tòa Nhà Vui Nhộn/Lost in the Funhouse(1968) gồm 14 truyện ngắn thường nói về quá trình đọc và viết.  Dụng ý của Barth là làm cho đọc giả nhận thức rõ bản chất giả tạo của việc đọc và viết, và ngăn ngừa đọc giả không bị lôi kéo vào câu chuyện như thể chuyện có thật.  Nhằm làm nổ tung ảo tưởng về chủ nghĩa hiện thực trong văn học, Barth sử dụng toàn bộ những phương tiện phản hồi để nhắc nhở đọc giả là họ đang đọc truyện.
Giống như Saul Bellow, những tác phẩm đầu tay của Barth chứa đầy thắc mắc và thuyết hiện sinh, và mảng chủ đề bỏ trốn đi lang thang của những thập niên 1950.  Trong tác phẩm Vở Opera Bồng Bềnh/The Floating Opera (1956), một người đàn ông tính chuyện tự tử.  Cuối Đường/The End of the Road (1958) nói về một chuyện tình phức tạp.  Những tác phẩm ông viết vào thập niên 1960 chứa đựng nhiều nét hài hước hơn, và giảm đi tính hiện thực.  Yếu Tố Thuốc Lá/The Sot-Weed Factor (1960) nhái lại lời văn của tiểu thuyết phiêu lưu với người hiệp sĩ ngang tàng (picaresque*) vào thế kỷ 18, trong khi Con Dê Đực Giles/Giles Goat-Boy (1966)  chế nhạo thế giới giống như một trường đại học.   
Quái vật Chimera**/Chimera (1972) kể lại các chuyện trong huyền thoại Hy lạp, và Những Lá Thư/Letters (1979) dùng Barth làm nhận vật,  như Norman Mailer đã làm trong Đoàn Quân Đêm/The Armies of the Night. 
Trong Kỳ Nghỉ Phép: Một Truyền Tình/Sabbatical: A Romance(1982), Barth đã sử dụng một mô típ rất phổ biến trong tiểu thuyết gián điệp, đây là câu chuyện nói về một nữ giáo sư đại học và người chồng của bà, một nhân viên mật thám đã về hưu chuyển sang viết văn.  Những tiểu thuyết ông sáng tác về sau như Những Câu Chuyện Kể Về Thủy Triều/The Tidewater Tales (1987), Hải Trình Cuối Cùng Của Một Kẻ Là Thủy Thủ/The Last Voyage of Somebody the Sailor (1991), và Ngày Xưa: Vở Opera Nổi Trôi/Once Upon a Time: A  Floating Opera (1994) cho thấy "tài nghệ đầy đam mê" của Barth (theo ngôn từ ông dùng) trong việc điều đình giữa thế giới hỗn độn bao la như biển cả qua cách dùng ngôn ngữ rối rắm nhưng sáng chói của ông.

------
*A picaresque novel is narrative fiction made up of the adventures of a wily hero or heroine. ... The genre gets its name from the Spanish word picaro, or "rogue." The structure of a picaresque is usually episodic, which means that you get the action in installments, kind of like a television series. Picaresque là loại tiểu thuyết kể về các cuộc phiêu lưu của nhân vật nam hoặc nữ chính đầy mưu chước...Thể loại này lấy tên từ chữ Tây ban nha "picaro" tức là "tên điếm đàng." Bố cục của loại tiểu thuyết này thường gồm các hồi, nhiều hồi kết lại dần dần làm nên tình tiết của truyện, giống như phim gồm nhiều hồi chiếu trên TV . 
**Chimera: (in Greek mythology) a fire-breathing female monster with a lion's head, a goat's body, and a serpent's tail. Trong thần thoại Hy lạp Chimera là một nữ quái thú thở ra lửa, có đầu sư tử, thân mình của con dê, và đuôi rắn.
------
Norman Mailer (1923- )
 Norman Mailer đã làm cho ông trở thành một nhà văn nổi cộm nhất vào những thập niên 1960, 1970.  Là người đồng sáng lập ra tuần báo chống lại những gì đã được xác lập lâu đời trong guồng máy thành phố New York, báo Mõ Làng/The Village Voice, Mailer đã ra mắt trước công chúng cùng lúc ông trình bày quan điểm chính trị của mình. Với văn phong mạnh mẽ, dựa trên kinh nghiệm sống, Mailer nối tiếp truyền thống của Ernest Hemmingway.  Nhằm thực hiện lời thề viết về vụ ám sát tổng thống John .F. Kennedy, về vụ phản đối chiến tranh Việt nam, đòi giải phóng người da den, và về phong trào nữ quyền, ông đã tạo dựng những nhân vật nam đầy nam tính, sống hiện sinh và ngang tàng (trong tác phẩm Chính Trị Giới Tính/Sexual Politics, Kate Millett đã nêu đích danh Mailer là người bênh vực đàn ông điển hình nhất).  Con người phóng túng Mailer đã đẩy đưa ông lập gia đình đến sáu lần và ông còn ra tranh chức thị trường thành phố New York.  Mailer trái ngược nhà văn John Barth, người quan niệm đề tài viết không quan trọng bằng cách xử lý đề tài. Khác với Thomas Pychon, một nhà văn ẩn mình không ai thấy, Mailer thường xuyên đòi hỏi và tìm cách để được chú ý.
Là tiểu thuyết gia, nhà viết nghị luận, thỉnh thoảng là chính trị gia và nhà hoạt động văn học, và có khi là kịch sĩ nữa, Mailer luôn luôn xuất hiện. Từ tác phẩm ông viết  theo kiểu báo chí mới mang tựa đề Miami và Cuộc Bao Vây Chicago/Miami and the Siege of Chicago (1968), trong đó ông phân tích hội nghị của các đảng phái về cuộc tranh cử tổng thống năm 1968, và tác phẩm Bài Ca Của Kẻ Giết Những Tử Tội/The Executioner’s Song (1979), công trình tìm hiểu rất lôi cuốn của ông về vụ xử tử một tên giết người bị lên án.  Mailer đã chuyển sang viết những tiểu thuyết khó viết như Những Đêm Cổ Xưa/Ancient Evenings (1983), lấy bối cảnh  nước Cổ Ai cập, và Bóng Ma Của Harlot/Harlot’s Ghost (1991), xoay quanh Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ. 

Philip Roth (1933- )   
Giống như Norman Mailer, Philip Roth đã khiến dư luận xôn xao rất nhiều khi ông đào bới từ cuộc đời của mình để viết truyện.  Trong trường hợp Roth, cách ông xử lý các chủ đề tình dục và lối phân tích mỉa mai về cuộc sống của người Do thái đã làm rất nhiều người quan tâm chú ý cũng như phê phán chỉ trích.  
Quyển sách đầu tay của ông tựa đề Vĩnh Biệt Columbus (1959), châm biếm người Do thái sống ở ngoại ô. Trong tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, quyển Lời Than Phiền Của Portnoy/Portnoy’s Complaint (1969) táo bạo và bán chạy nhất, một nhà quản lý thành phố New York pha trò với nhà phân tích tâm lý ít nói của mình bằng những mẫu chuyện hạ cấp hồi thời niên thiếu.  Mặc dù tác phẩm Quyển Tiểu Thuyết Mỹ Vĩ Đại/The Great American Novel (1973) nói về truyền thuyết môn thể thao dã cầu/bóng chày, phần lớn các tiểu thuyết của Roth về cơ bản là những tự truyện.  Trong truyện Đời Nam Nhi Của Tôi/My Life As a Man (1974), chịu căng thẳng vì bị vợ ly dị, một người đàn ông phải dùng biện pháp nghĩ ra một cái tôi khác cho bản thân, Nathan Zuckerman, câu chuyện của người này làm thành một thái cực cho câu chuyện, còn ở thái cực ngược lại là những lời đáp lại đủ kiểu khác nhau của đọc giả.  Zuckerman dường như đã đảm nhận vai trò kể truyện cho một loạt những tiểu thuyết sau này của Roth.  Tiểu thuyết thành công nhất có lẽ là tiểu thuyết đầu tiên tựa đề Nhà Văn Viết Thuê Ẩn Danh/The Ghost Writer (1979).  Người kể chuyện là  Zuckerman, một nhà văn trẻ bị những người Do thái lớn tuổi chỉ trích là đã thổi thêm vào ngọn lửa bài Do thái.  Trong truyện Zuckerman Gặp Thời/Zuckerman Bound (1985), một cuốn tiểu thuyết đã làm Zuckerman trở nên giàu có và nổi tiếng.  Trong Đời Ngụy Tạo/The Counterlife (1986), tiểu thuyết thứ năm trong loạt tiểu thuyết do Zuckerman kể lại, những câu truyện được đem ra đối chiếu với những truyện khác, khi cuộc đời được cho là của Nathan bị đem ra đối chiếu với các cuộc đời tưởng tượng khác.  Hồi ký của Roth, quyển Sự Kiện/The Facts (1988), càng khiến tình hình tệ hại thêm, trong truyện này Zuckerman chỉ trích lời kể chuyện của chính Roth.
Roth tiếp tục phân vân bị giăông co giữa ranh giới hư cấu và hiện thực trong tác phẩm Gia Tài Của Bố: Một  Chuyện Có Thật/Patrimony: A True Story (1991), hồi ký về cái chết của cha ông.  Trong những tiểu thuyết gần đây của ông gồm Đồng Quê Mỹ/ American Pastoral (1997), nói về phong cách cấp tiến kiểu những năm 1960 của cô con làm tổn thương cha của cô, và truyện Vết Nhơ Con Người/The Human Stain (2000), nói về một ông giáo sư bị sự nghiep tan theo mây khói vì một hiểu nhầm mang tính kỳ thị chủng tộc qua ngôn từ của mình. 
Roth là nhà phân tích sâu sắc về các mặt mạnh và yếu của người Do thái.  Cách tác giả xây dựng nhân vật rất tinh tế.  Nhân vật chính của ông đều là những con người phức tạp, có cá tính và đầy tính người sâu sắc.  Loạt tiểu thuyết tự truyện của Roth gợi chúng ta nhớ đến loạt truyện về Bech gần đây của John Updike. Và cũng chính nhà văn bậc thầy về phong cách John Updike là người mà Roth, vốn có văn phong sáng tạo tinh tế được đọc giả ngưỡng mộ, thường được so sánh cùng.
Mặc dù tác phẩm của ông toát ra sự thông minh dí dỏm, một số đọc giả cho rằng truyện của Roth nói về mình quá nhiều.  Tuy vậy, những thành tựu đáng kể của ông trong gần 50 năm đã đưa ông vào địa vị những tiểu thuyết gia nổi bật nhất của Hoa kỳ.