Wednesday, June 19, 2019

Chương V -Phần 3- Sự Ra Đời Của Chủ Nghĩa Hiện Thực (1860-1914) - Các Nhà Văn Quốc Tế

                                               Các Nhà Văn Quốc Tế
Henry James (1843-1916) 

Henry James có lần viết rằng nghệ thuật, nhất là nghệ thuật văn chương, “tạo nên đời sống, niềm hứng thú, và điều quan trọng.”  Trong thời đại của ông, tiểu thuyết và bài phê bình của Henry James đều phức tạp, khó hiểu và có ý thức rõ ràng nhất.  Cùng với Twain, Henry James được xếp vào hàng nhà văn vĩ đại nhất thuộc hậu bán thế kỷ 19. 
James được chú ý vì “chủ đề quốc tế” trong tác phẩm của mình –"quốc tế"tức là mối quan hệ phức tạp giữa người Mỹ bản xứ và người Âu châu nói chung.  Giai đoạn mà Leon Edel, nhà viết tiểu sử của James, gọi là thời kỳ sáng tác “đầu tiên,” tức thời kỳ “quốc tế,” gồm các tác phẩm như Bút Ký Xuyên Đại Tây Dương (những mẫu truyện du ký năm 1875), Người Mỹ (1877), Daisy Miller (1879), và kiệt tác Chân Dung Một Cô Gái (1881).  Thí dụ trong truyện Người Mỹ, Christopher Newman, một triệu phú về công nghiệp, tự tạo nên sự nghiệp, thông minh nhưng ngây ngô lý tưởng, sang Âu châu để tìm vợ.  Khi gia đình cô gái từ chối vì anh không xuất thân từ dòng dõi quý tộc, anh đã có thể trả thù lại; nhưng anh lại quyết định không trả thù, và khi làm thế, anh chứng tỏ mình hơn gia đình cô gái về mặt đạo đức.
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ “thử nghiệm.” James viết về những chủ đề mới –phong trào nữ quyền và cải cách xã hội trong tác phẩm Những Người Boston (1886), và mưu đồ chính trị trong tác phẩm Công Chúa Cassamassima (1885). Ông cũng thử viết kịch, nhưng thất bại não nề khi vở kich Guy Domville (1895) bị khán giả la ó ngay đêm diễn đầu tiên.
Thời kỳ thứ ba, tức thời kỳ “chính,” ông quay trở lạí các chủ đề quốc tế, nhưng đi sâu về mặt tâm lý và bàn về chủ đề một cách phức tạp hơn.  Tác phẩm Cánh Chim Bồ Câu (1902) phức tạp và gần như huyền thoại, Các Vị Đại Sứ (1903) (James cho đây là tiểu thuyết hay nhất của ông) và Bát Vàng (1904) thuộc về thời kỳ sáng tác chính này của tác giả.


Nếu chủ đề chính trong tác phẩm của Twain là thế giới thực tại bên ngoài, mối quan tâm thường xuyên của James là nhận thức bên trong. Trong tác phẩm của James, chỉ có̉ ý thức về tự ngã và hiểu biết rõ ràng về người khác mới đưa đến trí tuệ và tình yêu vị tha.  Tiểu thuyết của James phát triển nhiều về mặt tâm lý nhân vật, nhưng ít quan tâm đến các biến cố bên ngoài. Trong các tác phẩm viết vào lúc cuối đời của ông, những biến cố quan trọng nhất đều mang tính tâm lý, thường là những giây phút khi nhân vật bừng tỉnh ngộ và nhận ra sự mù tối của mình trước đây.  Thí dụ trong tác phẩm Các Vị Đại Sứ nhân vật lý tưởng đã luống tuổi Lambert Strether đi tìm lại một mối tình ẩn tàng, và qua đó ông đã khám phá ra nét phức tạp mới trong đời sống nội tâm của mình. Khuynh hướng đạo đức nguyên tắc và cứng ngắc của ông đã trở nên mang tính người nhiều hơn và rộng mở khi ông khám phá ra mình có thể chấp nhận kẻ phạm tội dễ dàng hơn.
Edith Wharton (1862-1937) 
Giống James, Edith Wharton có một thời gian lớn lên ở Âu châu, và cuối cùng bà cũng trở về sống tại đó.  Bà thuộc dòng dõi một gia đình giàu có thanh thế trong xả̃ hội New York và, với cách nhìn riêng, bà đã tận mắt thấy sự sa sút dần dần của nhóm người có văn hóa cao này, cùng sự trỗi dậy của những gia đình doanh nhân giàu mới, cộc cằn, thô lỗ.  Xã hội chuyển hoá là nền tảng cho nhiều tiểu thuyết của bà.
Giống James, bà đối chiếu người Mỹ với người Âu.  Bà chủ yếu quan tâm đến hố sâu cách biệt giữa đời sống xã hội và nội tâm con người.  Trong tác phẩm của bà thường có một nhân vật nhạy cảm, bị ràng buộc bởi những nhân vật vô cảm hay các thế lực xã hội. Cá nhân bà cũng trải nghiệm mình bị bó thúc như thế khi còn là một nhà văn trẻ bị suy nhược tinh thần một thời gian dài một phần do mâu thuẫn giữa vai trò viết văn và làm vợ.  Những tiểu thuyết nổi tiếng của Wharton gồm Ngôi Nhà Đầy Tiếng Cười (1905), Phong Tục Miền Quê (1913), Mùa Hè (1917), Thời Đại Vô Tội, và quyển tiểu thuyết viết rất công phu tựa đề Ethan Frome (1911).
                             

Thursday, June 6, 2019

Chương V -Phần 2- Sự Ra Đời Của Chủ Nghĩa Hiện Thực (1860-1914) - Văn Hài Hước và Văn Học Mang Màu Sắc Địa Phương

Văn Hài Hước và Hiện Thực Vùng Biên Địa 
Ở nước Mỹ thế kỷ 19 hai dòng văn học chính đã hòa nhập thành một nơi Mark Twain, đó là dòng văn hài hước dân gian miền biên địa và dòng văn mang màu sắc địa phương (“văn học đặc thù của một vùng”).  Hai cách tiếp cận văn học có liên quan với nhau này khởi sắc vào những năm 1830  –thậm chí nó có gốc rễ từ truyền thống văn học tại từng địa phương.  Vì cách xa những thú vui thành thị, việc kể chuyện rất thịnh hành ở các ngôi làng nghèo chốn biên địa, trên sông nước, trong hầm mỏ, hay vào lúc những người chăn bò quây quần quần bên đống lửa.  Nói thậm xưng, kể chuyện bình dân với cách diễn đạt cường điệu để gây cười, nói khoát lác khó tin, và nói hài hước của người hùng lao động đem lại nét sinh động cho văn học miền biên địa.  Những dạng hài hước này có mặt ở nhiều vùng biên địa thuộc “miền Tây năm xưa” (nay là miền Nam nằm sâu trong lục địa và vùng đất phía dưới miền Trung tây), miền biên địa đang khai thác mỏ, và dọc theo Thái bình dương.  Mỗi vùng có một nhân vật độc đáo riêng và các câu chuyện được tập hợp lại đều kể về nhân vật đó: các nhân vật đó là Mike Fink, người hay gây sự trên thuyền bè đi trên sông Mississippi; Casey Jones, viên kỹ sư trong ngành hỏa xa dũng cảm; John Henry, người Mỹ da đen đóng khoan thép vào đá;* Paul Bunyan, người phu đốn gỗ khổng lồ mà tên tuổi được nhiều người biết đến qua quảng cáo; những người dân miền Tây như Kit Carson, chiến sĩ đương đầu chống lại người da đỏ; và Davy Crockett, người mở đường Tây tiến.  Những chiến công của họ được thổi phồng lên, và ca tụng qua các bài hát dân gian và trên báo chí.  Đôi khi những chuyện này được in thành sách, như trường hợp Kit Carson và Davy Crockett.
Twain, Faulkner và nhiều nhà văn khác, nhất là những nhà văn miền nam, chịu ảnh hưởng nhiều nơi các nhà hài hước vùng biên địa thời trước Nội chiến như Johnson Hooper, George Washington Harris, Augustus Lonstreet, Thomas Bangs Thorpe, và Joseph Baldwin.  Từ những nhà hài hước này cùng với người dân sống nơi biên địa đã rộ nở vô số từ ngữ hài hước của Mỹ như “absquatulate” (cuốn gói/chuồn), “flabbergasted” (há hốc mồm), “rampagious” (bát nháo).
Những người dân địa phương trong vùng hay nói ba hoa, “các anh hề với đuôi dài có khoan,” khăng khăng bảo rằng mình là "nửa ngựa nửa cá sấu," càng giúp tăng thêm sức sống cho miền biên cương. Họ mượn sức mạnh từ các thiên tai để khiến kẻ xấu phải khiếp sợ.  Một anh chàng ba hoa tuyên bố: “Tôi là con trốt người ta thường thấy, tôi cứng như hạt hickory, kéo dài và uốn lượn như luồn gió mạnh tây bắc.  Tôi có thể giáng một cú nệ̣n như thân cây đổ xuống, và tôi liếm một cái thì hiện cả một mẫu tây** ánh sáng ở ngay giữa đám đông.”
http://web.mst.edu/~kdrowne/SouthwesternHumor.html

*John Henry: He is said to have worked as a "steel-driving man"—a man tasked with hammering a steel drill into rock to make holes for explosives to blast the rock in constructing a railroad tunnel. According to legend, John Henry's prowess as a steel-driver was measured in a race against a steam-powered rock drilling machine, a race that he won only to die in victory with hammer in hand as his heart gave out from stress. The story of John Henry is told in a classic folk song, which exists in many versions, and has been the subject of numerous stories, plays, books, and novels.
https://en.wikipedia.org/wiki/John_Henry_(folklore)

**1 acre=0.405 hectare, 4,840 square yards
 
Những Nhà Văn Mô Tả Đời Sống Địa Phương
Giống như văn hài hước miền biên cương, văn học mô tả đời sống địa phương có ngồn gốc từ xa xưa (đã bắt rễ từ lâu), nhưng một thời gian dài sau Nội chiến dòng văn học này mới có những tác phẩm hay nhất xuất hiện.  Hiển nhiên là nhiều nhà văn trước Nội chiến từ Henry David Thoreau và Nathaniel Hawthorne đến James Greenleaf Whittier, James Russell Lowell đều vẽ nên cảnh tượng những vùng đấat cụ thể của nước Mỹ một cách độc đáo.  Nhưng cái làm cho những nhà văn địa phương khác với những nhà văn khác nằm ở chỗ họ quan tâm và ý thức rất rõ về việc biểu hiện một địa danh cụ thể, với ngòi bút hiện thực đi sâu mô tả từng chi tiết.
Bret Harte (1836-1902) được xem là tác giả của nhiều truyện mạo hiểm như “Cái May Mắn Của Trại Khai Mỏ Roaring Camp,” “Những Kẻ Du Thủ Du Thực Vùng Poker Flat,” có bối cảnh là miền biên địa khai thác mỏ ở miền Tây.

Là người đầu tiên thành công lớn của trường phái văn học mang màu sắc địa phương, trong một thời gian ngắn có lẽ Hart là nhà văn nổi tiếng nhất ở Mỹ với văn phong trữ tình rất hấp dẫn nói về miền Tây của những tay súng cừ khôi.  Bầng ngòi bút hiện thực, ông cũng là người đầu tiên đưa vào các tác phẩm văn học nghiêm túc các nhân vật thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội -- những tên đánh bạc xảo quyệt, các cô gái làng chơi ăn mặc lòe loẹt, và những tên cướp thô bạo.  Ông không bị chỉ trích (cũng như Charles Dickens ở Anh, người rất ngưỡng mộ tác phẩm của Hart), vì cuối truyện ông  cho ta thấy những người có vẻ vô gia cư như thế thật sự lại có tấm lòng vàng.
Nhiều nhà văn nữ được người ta nhớ đến qua việc mô tả rất tài tình về vùng New England như Mary Wilkins Freeman (1852-1930), Harriet Beecher Stowe (1811-1896), và nhất là Sarah Orne Jewett (1849-1909). Óc sáng tạo và tài quan sát chính xác về các nhân vật, về bối cảnh vùng Maine cùng văn phong tinh tế của bà thể hiện rõ qua truyện “Con Hạc Trắng” trong tập truyện Miền Đất Của Những Cây Thông Kim.  Những tác phẩm mang màu sắc địa phương của Harriet Beecher Stowe, nhất là truyện Nàng Pearl Trên Đảo Orr (1862) mô tả những làng đánh cá nghèo ở Maine đã ảnh hưởng đến Jewett rất nhiều. Qua các thư từ còn lưu lại người ta thấy các nhà văn nữ thế kỷ 19 đã thành lập một mạng lưới tương trợ về mặt đạo đức và gây được ảnh hưởng.  Phần lớn độc giả của các tiểu thuyết là phụ nữ, và nhiều nữ sĩ đã sáng tác tỉểu thuyết, thi ca, và những mẫu chuyện hài được nhiều người ưa chuộng.
Tất cả các miền trên nước Mỹ đều tán dương địa phương của mình qua văn hoc đậm màu sắc địa phương. Một số nói về các vụ phản đối đòi cải cách xã hội, nhất là vào khoảng cuối thế kỷ 19 khi tình trạng bất công xã hội và khó khăn kinh tế là những vấn đề hết sức bức bách.  Kỳ thị chủng tộc và bất bình đẳng giữa nam nữ được đề cập trong tác phẩm của những nhà văn miền Nam như George Washington Cable (1844-1925), Kate Chopin (1851-1904), được đề cập mạnh mẽ qua các truyện có bối cảnh là miền Louisiana nói tiếng Pháp của người Cajun* đã vượt xa loại tiểu thuyết mang màu sắc địa phương.
----
*The Cajuns (/ˈkeɪdʒən/; (Louisiana French: les Cadiens), also known as Acadians (Louisiana French: les Acadiens),[2] are an ethnic group mainly living in the U.S. state of Louisiana, and in the Canadian maritimes provinces as well as Québec consisting in part of the descendants of the original Acadian exiles—French-speakers from Acadia (L'Acadie) in what are now the Maritimes of Eastern Canada. In Louisiana, Acadian and Cajun are often used as broad cultural terms without reference to actual descent from the deported Acadians. Today, the Cajuns make up a significant portion of south Louisiana's population and have exerted an enormous impact on the state's culture.

Tiểu thuyết Gia Đình Grandissime The Grandissimes (1880) **của Cable đã đề cập vấn đề kỳ thị chủng tộc một cách tài tình, cũng như tác phẩm táo bạo Tỉnh Thức The Awakening (1899) kể về nỗ lực tuyệt vọng của một người phụ nữ đi tìm danh tính cho mình qua xúc cảm đam mê, một quyển truyện đi trước thời đại.
----
** https://docsouth.unc.edu/southlit/cablegrand/summary.html

Trong tác phẩm Tỉnh Thức một người phụ nữ trẻ đẹp đã có gia đình với những đứa con xinh xắn và một người chồng thành công độ lượng, đã từ bỏ gia đình tiền tài, danh vọng, và cuối cùng cả mạng sống của mình để đạt được điều nàng muốn.  Những hình ảnh nên thơ về biển cả, chim muông (trong lồng cũng như bay bổng trên trời) và âm nhạc gợi lên trong truyện ngắn này khiến nó trở nên mạnh mẽ phức tạp một cách lạ thường.
Cùng với truyện Tỉnh Thức phải nói đến truyện ngắn “Giấy Dán Tường Màu Vàng” (1892) của Charlotte Perkins Gilman (1860-1935).  Cả hai truyện đều bị quên lãng một thời, nhưng đã được các nhà phê bình văn học phụ nữ phát hiện trở lại vào cuối thế kỷ 20.  Trong truyện của Gilman, một bác sĩ cao ngạo đã làm vợ ông hóa điên khi ông nhốt bà trong phòng để trị bệnh suy nhược tinh thần cho bà.  Người vợ bị nhốt đã bộc lộ tinh trạng bị giam hãm của mình lên trên giấy dán tường, qua các hình vẽ các phụ nữ bị nhốt đang bò lê phía sau song sắt.
Chủ Nghĩa Hiện Thực Miền Trung Tây
Qua nhiều năm dài chủ bút tờ nguyệt san Atlantic có tầm vóc quan trọng là William Dean Howells (1837-1920) đã cho xuất bản tác phẩm hiện thực mang màu sắc điạ phương của các nhà văn như Harte, Mark Twain, George Washington Cable và nhiều người khác.  Ông là kiện tướng của chủ nghĩa  thực, và những tiểu thuyết ông viết như Một Thí Dụ Đời Mới (1882), Sự Thăng Tiến Của Silas Lapham (1885), và Cái Nguy Hại Của Kẻ Giàu Mới (1890), đã hòa quyện nhuần nhuyễn các hoàn cảnh xã hội với tình cảm những người dân Mỹ trung lưu thường thấy.  
Tình yêu, tham vọng, lý tưởng, và những cám dỗ là động cơ thúc đẩy hành động của các nhân vật trong truyện.  Howells hiểu biết rất sắc bén sự băng họai về đạo đức của giới thương gia tài phiệt thời Mạ Vàng (Gilded Age) vào những năm 1870. Tác phẩm Sự Thăng Tiến Của Silas Lapham đã nói lên điều đó một cách mai mỉa qua tựa đề cuốn sách.  Silas Lapham đã trở nên giàu có bằng cách lừa đảo một người cùng làm ăn chung trước đây với mình; và hành động vô đạo đức của hắn đã làm đảo lộn cả gia đình hắn, mặc dù nhiều năm trôi qua hắn vẫn không thấy mình hành động không đúng.  Cuối cùng Lapham cũng biết hối lỗi, và đã chấp nhận phá sản thay vì thành công một cách vô đạo đức.  Giống như Huckleberry Finn, Silas Lapham là một câu chuyện về việc không thành công: sự sụp đổ doanh nghiệp của Lapham lại là sự thăng tiến về đạo đức của hắn.  Giống như Twain, về cuối đời Howells ngày càng tích cực hoạt động cho sự nghiệp chính trị, nhằm bảo vệ quyền lợi của các tổ chức nghiệp đoàn lao động, và phản đối chủ nghĩa thực dân Mỹ ở Phi luật tâṇ.

Sunday, June 2, 2019

Khái Lược Văn Học Sử Mỹ - Chương V -Phần 1- Sự Ra Đời Của Chủ Nghĩa Hiện Thực (1860-1914) - Mark Twain

                                                                        Chương V
                                             Sự Ra Đời Của Chủ Nghĩa Hiện Thực (1860-1914) - Mark Twain

Cuộc Nội chiến (1861-1865) giữa miền Bắc công nghiệp và miền Nam nông nghiệp dựa vào sở hữu nô lệ là một bước ngoặc lớn trong lic̣h sử Mỹ.  Sau cuộc chiến,  nét lạc quan ngây thơ của một quốc gia dân chủ non trẻ đã nhường chỗ cho một thời kỳ kiệt quệ.  Lý tưởng Mỹ vẫn còn đó, nhưng nó đã chuyển hướng.  Trước chiến tranh, những người có lý tưởng đấu tranh bảo vệ nhân quyền, nhất là đòi xóa bỏ chế độ nô lệ; sau chiến tranh người Mỹ ngày càng lý tưởng hóa văn minh tiến bộ và mẫu người tự nỗ lực thành công. Đây là thời kỳ của nhà triệu phú công nghệp và sản xuất kỹ nghệ, thời kỳ của nhà đầu tư thị trường chứng khoáng, thời kỳ khi thuyết tiến hóa của Darwin và "sự sống còn của loài thích nghi nhất" có vẻ đã thừa nhận cả các phương pháp đôi khi vô đạo đức của những tên đại gia thành đạt.
Doanh nghiệp nở rộ sau chiến tranh.  Việc sản xuất phục vụ chiến tranh đã thúc đẩy công nghiệp ở miền Bắc và cho nó vị trí ưu thế và quyền lực chính trị (political clout). Nó cũng giúp những nhà kinh doanh công nghiệp thêm kinh nghiệp quý báu về quản lý con người và máy móc.  Tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú của đất nước Mỹ --sắc, than, dầu mỏ, vàng, bạc-- đem nhiều nguồn lợi cho doanh nghiệp.  Hệ thống hỏa xa xuyên lục địa mới xây dựng, khánh thành năm 1869, và thông tin liên lạc bằng điện tín cả xứ bắt đầu hoạt động năm 1861 đã giúp công nghệ dễ dàng trong việc tiếp cận nguyên liệu, thị tường và truyền thông. Dòng người nhập cư liên tục cung cấp nguồn lao động với giá không cao hầu như không bao giờ dừng.  Trên 23 triệu người nước ngoài  --từ Đức, bán đảo Bắc âu Scandanavia và Ái nhĩ lan trong những năm đầu, rồi sau đó ngày càng nhiều người nhập cư đến từ miền Trung và Nam Âu châu-- đổ xô đến nước Mỹ giữa năm 1860 và năm 1910.  Chủ nhân đồn điền ở Hawaii,các công ty hỏa xa và doanh nghiệp cần người ở miền Tây cũng thâu nhập vào người lao động hợp đồng từ Tàu, Nhật và Phi luật tân.
Năm 1860 đại đa số người Mỹ sống ở nông trại hoặc các ngôi làng nhỏ, nhưng tính đến năm 1919 một nửa dân số Mỹ đã tập trung sống ở 12 thành phố.  Các vấn đề đô thị hóa và công nghiệp hóa đã xuất hiện: nhà ở nghèo nàn chật chội, điều kiện sống thiếu vệ sinh, lương thấp (gọi là "nô lệ ăn lương"), điều kiện làm việc khó khăn, và việc kiềm chế doanh nghiệp không đầy đủ.  Các nghiệp đoàn lao động bắt đầu phát triển, và những vụ đình công khiến cả nước bắt đầu chú ý đến tình cảnh công nhân. Tương tự, các chủ nông trại thấy mình phải vật lộn với "tiền lời" đến từ phía miền Đông, những tên tài phiệt nhiều mánh khóe như J.P. Morgan và John D. Rockefeller.  Các nhà băng có bản doanh ở miền đông của họ kiểm soát tín dụng và các hợp đồng cho vay lấy lãi thế chân bằng bất động sản rất chặt chẽ, là huyết mạch đối với sự phát triển và nền nông nghiệp của miền tây.  Trong khi đó các công ty hỏa xa tính cước rất cao khi chuyên chở nông sản đến các thành phố.  Nông gia dần dần thành đối tượng để chỉ trích và chế nhạo như kẻ "quê mùa," "ngu dốt." Người Mỹ lý tưởng trong thời kỳ sau Nội chiến là nhà triệu phú.  Năm 1860 có không đến 100 triệu phú; nhưng đến năm 1875, có trên 1.000 người.   
Từ 1860 đến năm 1914, nước Mỹ đã biến đổi từ một nước cựu thuộc địa của Anh non trẻ sống bằng nông nghiệp thành một nước công nghiệp hiện đại khổng lồ.  Từ một nước mắc nợ vào năm 1860; đến năm 1914, Mỹ trở thành nhà nước giàu nhất thế giới, với dân số tăng lên hơn gấp đôi, từ 31 triệu năm 1860 tăng lên đến 76 triệu năm 1900.  Cho đến thế chiến thứ nhất, Mỹ đã trở thành một cường quốc thế giới quan yếu.
Cùng với công nghiệp hóa phát triển là sự cách ly con người.  Các tiểu thuyết Mỹ đặc trưng trong thời kỳ này như Maggie: Cô Gái Đường Phố của Stephen Crane, Martin Eden của Jack London, và sau đó là tác phẩm Một Bi Kịch Nước Mỹ của Theodore Dreiser, đều mô tả sự băng hoại do các thế lực kinh tế gây ra, và sự cách ly người nghèo và kẻ cô thế.  Những người sống sót, như Huck Finn của Twain, Humphrey Vanderveyden trong truyện Sói Biển của London, và Dì Carrie cơ hội chủ nghĩa của Dreiser tồn tại được nhờ nội lực của họ dựa trên lòng nhân ái, nhanh nhạy, và trên hết là cá tính riêng của mình.
Samuel Clemens (Mark Twain) (1835-1910)
Samuel Clemen, người được biết nhiều hơn qua bút danh Mark Twain, lớn lên tại thị trấn Hannibal vùng biên địa bên bờ sông Mississippi, tiểu bang Missouri.  Câu nói nổi tiếng của Ernest Hemingway cho rằng toàn bộ văn học Mỹ đều xuất phát từ một quyển sách lớn, quyển Những Cuộc Hành Trình Của Huckleberry Finn, cho ta thấy vị trí cao vòi vọi của tác giả trong di sản này.  Những nhà văn Mỹ đầu thế kỷ 19 có khuynh hướng quá cầu kỳ, ướt át, màu mè thái quá --phần vì họ vẫn cố gắng tỏ ra mình cũng có thể viết văn trau chuốt như người Anh.  Văn phong của Twain, dựa trên lời nói bình dân, hiện thực mạnh mẽ của người Mỹ, đã đem đến cho các nhà văn Mỹ cách nhìn trân quý mới mẻ đối với tiếng nói của dân tộc mình.  Twain là tác giả lớn đầu tiên đến từ trong lòng nước Mỹ và ông đã thể hiện được cách nói bình dân hài hước độc đáo, cùng tinh thần đả phá mọi giá trị, định chế truyền thống.
Đối với Twain và những nhà văn Mỹ khác cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện thực không chỉ là một văn thuật: Nó chính là cách nói lên sự thật và làm nổ tung các quy ước lỗi thời.  Vì thế nó giải phóng triệt để và có tiềm năng thách thức lại xã hội.  Thí dụ nổi bật nhất là Huck Finn, một thằng bé nghèo quyết định nghe theo tiếng gọi của lương tâm và giúp đỡ một người nô lệ da đen đi trốn tìm tự do, mặc dù Huck nghĩ làm như thế có nghĩa là cậu bé sẽ phải đọa địa ngục vì dám bất tuân luật lệ.
Kiệt tác của Mark Twain xuất hiện năm 1884 có bối cảnh là ngôi làng St. Petersburg trên sông Mississippi. Là con của một kẻ vô gia cư nghiện ngập, Huck vừa được một gia đình tử tế nhận làm con nuôi thì cha của cậu bé, trong một cơn say mèm, dọa sẽ giết cậu.  Sợ bị chết, Huck tìm cách trốn thoát bằng cách dàn cảnh giả là mình đã bị chết. Trong khi Huck đi trốn, một người bị xã hội săn lùng khác cùng tháp tùng với cậu; đó là anh nô lệ tên Jim có người chủ là cô Watson, người sắp bán anh đi theo dòng sông về tận miền Nam nơi chế độ nô lệ còn hà khắc hơn nữa. Huck và Jim sống trôi nổi trên một chiếc bè trên sông Mississippi hùng vĩ, nhưng rồi chiếc bè bị một tàu hơi nước làm đắm chìm; họ lạc mất nhau rồi về sau gặp lại. Họ trải qua nhiều chuyến hành trình vừa khôi hài vừa nguy hiểm ở trên bờ.  Những chuyến đi ấy cho thấy tính cách đa dạng, lòng rộng lượng, và đôi khi phi lý tàn bạo của xã hội con người.  Cuối cùng người ta khám phá ra rằng cô Watson đã trả tự do cho Jim, và một gia đình tử tế sẽ nhận thằng bé đi hoang Huck làm con nuôi.  Nhưng Huck kh̀ông chịu nổi xã hội văn minh và cậu lại dự định sẽ trốn đến "các lãnh địa"--tức miền đất có người da đỏ sống.  Kết thúc truyện đem lại cho người đọc một phiên bản đối nghịch hẳn với huyền thọại cổ điển về sự thành công kiểu Mỹ: đó là con đường rộng mở dẫn đến miền đất hoang dã nguyên tuyền, xa khỏi những ảnh hưởng băng hoại của “văn minh.” Những tiểu thuyết của James Fenimore Cooper, các bài thơ ca hướng về con đường cái quan của Walt Whitman, tiểu thuyết Con Gấu của William Faulkner, và tác phẩm Trên Đường  của Jack Kerouac là những thí dụ tương tự khác trong văn học Mỹ.
Huckleberry Finn đã gợi hứng cho muôn vàn cách diễn giải về tác phẩm.  Chắc chắn quyển tiểu thuyết là câu chuyện về sự chết, sống lại, và sự bắt đầu.  Người nô lệ đào tẩu tên Jim đã trở thành hình ảnh người cha của Huck; khi quyết định cứu Jim, Huck đã phát triển về mặt đạo đức, vượt khỏi mọi ràng buộc của xã hội sở hữu nô lệ cậu từng sống.  Chính những cuộc hành trình của Jim đã khai mở cho Huck thấy những phức tạp của bản chất con người và đem đến cho Huck lòng dũng cảm về đạo đức.
Quyển tiểu thuyết sinh động hóa lý tưởng của Twain về một cộng đồng sống hài hòa với nhau: "Vượt lên tất cả, cái bạn muốn có trên chiếc bè là ai ai cũng hài lòng và cảm thấy mình cư xử đúng đắn, tử tế với người khác."  Giống như chiếc tàu Pequod của Melville, chiếc bè đã bị chìm cùng với cái cộng đồng đặc biệt ấy.  Thế giới trong sáng đơn giản của chiếc bè cuối cùng đã bị áp đảo bởi tiến bộ vật chất --tượng trưng là chiếc tàu hơi nước, nhưng hình ảnh huyền thoại của dòng sông Mississippi vẫn còn mãi, bao la và không ngừng biến đổi như chính cuộc sống.
Mối liên hệ không bền chắc giữa thực tại và ảo tưởng là một chủ đề đặc thù trong tác phẩm của Twain, và là nền tảng cho phần lớn tính cách hài hước của ông.  Dòng sông hùng vĩ nhưng phỉnh phờ và thường xuyên thay đổi cũng là nét chính của phong cảnh ông hư cấu.  Trong tác phẩm Đời Sống Trên Sông Mississippi Twain nhớ lại thời ông còn trẻ học làm người lái tàu hơi nước, ông viết: "Bây giờ tôi đi làm để học về hình dạng con sông, và về tất cả những sự vật tan biến nhanh mà tâm trí và bàn tay tôi không sao nắm giữ được, đó mới là cái chính yếu."
Ý thức về đạo đức của Twain với tư cách một nhà văn phản ảnh trách nhiệm của ông khi làm người lái tàu đưa con tàu đến bến an toàn.  Bút hiệu "Mark twain" của Samuel Clemens là cụm từ những người đi tàu trên dòng Mississippi thường dùng để nói về hai fathoms, tức 3.6 mét, độ sâu của mực nước đủ để tàu bè đi qua sông an toàn.  Mục đích nghiêm túc kết hợp với thiên tài về văn phong và óc hài hước hiếm có  của Twain đã khiến tác phẩm của ông tươi mát và lôi cuốn.