Monday, May 17, 2021

Thi Ca Mỹ Đương Đại --Phần 3: Thơ Của Tiếng Nói Nội Tâm/Thơ Tự Bạch

Ở điểm cực đoan nhất của nó, thơ về tự ngã xóa bỏ cả cái tôi nếu cái tôi đó thiếu tính nhạy cảm đối trọng.  Giai đoạn kế đến có thể là thơ của tiếng nói nội tâm/tự bạch hoặc là thơ của những tự ngã hư cấu, phá vỡ ý tưởng cứng ngắc về tự ngã thành những từng mảnh vụn và nhiều cá tính.  Những đoạn độc thoại đầy kịch tính của Robert Browning là tiền đề vào thế kỷ 19 mở đầu cho loại thơ này.   Cái "Tôi" hư cấu nghe chắc thật nhưng nó không dính líu đến tác giả nhà thơ thật, tự ngã của nhà thơ vẫn không lộ diện.

Loại thơ này thường lấy chủ đề từ các huyền thoại và văn hóa quần chúng, điển hình là nhìn các mối quan hệ hiện đại như việc định nghĩa lại hoặc như các phiên bản của những mẫu xưa cũ hơn.  Các nhà thơ đương thời sáng tác thơ tiếng lòng hay thơ độc thoại gồm Brigit Pegeen Kelly, Alberto Rios, và nhà thơ người Canada Margaret Atwood.

Thường thường, thơ tiếng nói nội tâm được viết từ ngôi thứ nhất, nhưng ngôi thứ ba cũng có thể tác động đến người đọc tương tự nếu có cái nhìn rõ ràng là cái nhìn của nhân vật như trong tập thơ tựa đề Thomas và Beulah của Rita Dove.  Trong tác phẩm này, Dove đan lồng tiểu sử với lịch sử để dựng lại cuộc đời của ông bà mình.  Giống như nhiều người Mỹ gốc Phi châu vào đầu thế kỳ 20, họ trốn chạy nạn nghèo khó ở thôn quê miền Nam lên làm việc tại chốn thành thị phương Bắc.  Dove đưa nhân cách vào cuộc sống nghèo khó của ông bà mình.  Công việc đầu tiên Thomas làm, một lao công làm ca ba, đòi hỏi ông phải sống trong trại lính và phải chia xẻ tấm nệm ông nằm với hai người đàn ông mà ông chưa từng gặp trước đó.  Công việc ông làm là "một nỗi ưu phiền sâu đâm," nhưng âm nhạc đã nâng tinh thần ông lên như một người phụ nữ đẹp (điều này báo trước về nhân vật Beulah, người mà ông chưa gặp).  Khi Thomas hát:

chàng nhắm mắt lại.

Chàng không bao giờ biết khi nào nàng sẽ đến

nhưng khi nàng đi về, chàng luôn luôn nghiêng mũ chào.

Louis Glück (1943- )

Một trong những thi sĩ viết thơ tự bạch ấn tượng nhất là Louis Glück.  Sinh ra tại thành phố New York, Glück, nhà thơ được giải thưởng thơ hay nhất năm 2003-2004, lớn lên lúc nào lòng cũng bị đè nặng tội lỗi về cái chết của người chị ra đời trước mình.  Tại đại học Sarah Lawrence và đại học Columbia, bà học với nhà thơ Leonie Adams và Stanley Kunitz, và bà cho rằng nhờ phương pháp phân tâm học và nhờ nghiên cứu thi ca mà bà duy trì được đời sống nội tâm.  Phần lớn thơ của bà nói về cái mất mát bi thương.

Mỗi tập thơ của Glück đều cố thử nghiệm những thi thuật mới, do đó ta khó lòng nói ngắn gọn về tác phẩm của bà.  Những tập đầu tiên, như Ngôi Nhà Trên Đầm Lầy (`975) và Chiến thắng của Archilles* (1985), sử dụng chất liệu từ cuộc đời của tác giả với cái nhìn từ xa soi rọi vào nội tâm, trong khi những tập về sau bà nói một cách trực tiếp hơn.  Đồng Nội (1996) sử dụng nét hài dí dỏm và nói đến thi phẩm Odyssey để mô tả một cuộc hôn nhân thất bại.

 Trong tập thơ Hoa Diên Vĩ Dại (1992) của Glück, những loại hoa khác nhau lên tiếng qua các đoạn độc thoại siêu hình ngắn.  Bài thơ dùng làm tựa đề cho tập thơ, một bài đi sâu tìm hiểu về sự phục sinh, có thể xem như nét khắc họa chính cho toàn bộ tác phẩm của Glück .  Hoa diên vĩ dại, một loại hoa xanh biếc, nở từ củ nằm sâu yên nghỉ suốt mùa đông, nói rằng: "Ý thức/ còn sống sót được thật kinh khủng/khi nó bị vùi chôn dưới đất tăm tối."  Giống cái nhìn của Jorie Graham về tự ngã hiện lên trong cơn bão tuyết, bài thơ của Glück kết thúc với cái nhìn tự ngã và thế giới hòa nhập làm một --lần này trong nước sống, cùng một phía như nhau:

Này bạn người không nhớ 

hành trình từ thế giới bên kia

Tôi bảo bạn tôi có thể nói lại lần nữa:

bất cứ cái gì

trở về từ vùng lãng quên

trở về tìm tiếng nói;

vòi nước lớn đến từ giữa cuộc đời tôi, 

những chiếc bóng biếc trên nước biển xanh lơ

 

Giống như Graham, Glück hòa cái tôi vào thế giới qua hình ảnh nước luân lưu.  Trong khi nước tuyết đông đặc của Graham tương tự như cát, là nơi mặt đất tiếp giáp với biển, nước xanh lơ của Glück --tượng trưng cho trái tim của thi sĩ-- hoà nhập vào nước biển mặn của thế giới.

 

(Còn tiếp)  

---    

*In Greek mythology, Achilles or Achilleus was a hero of the Trojan War, the greatest of all the Greek warriors, and is the central character of Homer's Iliad.


 

  












Saturday, May 8, 2021

Thi Ca Mỹ Đương Đại --Phần 2: Thơ Về Tự Ngã/Cái Tôi

Thơ về tự ngã có khuynh hướng nói với chính mình hoặc là độc thoại.  Ở mức độ xúc cảm mạnh mẽ, loại thơ này bộc lộ trạng thái tâm hồn của một con người.  Bối cảnh, dù có mặt, vẫn không hề đóng vai trò quyết định nào.  Loại thơ này mang tính tâm lý hoặc tâm linh, với niềm khát vọng về một cảnh giới vô thời gian.  Tuy vậy, nó cũng có thể làm giảm bớt niềm tin vững chắc về tâm linh bằng cách diễn dịch mọi ý nghĩa chỉ qua ngôn ngữ.  Do đó, trong nhóm thơ về tự ngã phong phú này,  người ta có thể tìm thấy thơ nhuốm vẻ lãng mạn, giàu xúc cảm, cũng như những bài thơ dựa trên ngôn ngữ đặt lại vấn đề danh tính và ý nghĩa, xem đấy như là những cái được tạo dựng lên.

Giữ thế quân bình trước những mối quan ngại này, John Ashbery nói rằng ông chú ý đến "trải nghiệm về kinh nghiệm,"hay cái được gạn lọc qua ý thức của ông, hơn là cái thực sự xảy ra.  Bài thơ "Được Sửa Chữa Lại Nhanh Nhất,"/ "Soonest Mended" (1970)* mô tả một thực tại "ngoài kia"/"out there" nằm sờ sờ ra đó và có vẻ đơn giản, nhưng lại là cái sống còn giống như sàn nhà mà trên đó lúa và trấu (giống như cuộc đời của con người, hay là những lá cỏ của nhà thơ Walt Whitman) được gạn lọc để tách ra:

...nằm bên dưới cuộc chuyện trò là

dòng chuyển dịch và không muốn bị chuyển dịch, 

là ý nghĩa lỏng lẻo, bừa bộn và đơn sơ như sàn đập lúa. 

Nhà thơ bí ẩn, được đào tạo theo khuynh hướng cổ điển W.S. Merwin (1927-) tiếp tục cho ra đời những tập thơ với cái nhìn riêng chủ quan của mình khiến độc giả không thể quên được.  Bài thơ "Dòng Sông Của Ong"/"The River of Bees" (1967) của Merwin kết thúc như sau:

Trên cửa có nói phải làm gì để sống còn

Nhưng chúng ta sinh ra đâu phải để sống còn

Chỉ để sống thôi

Chữ "chỉ" nhấn mạnh một cách mỉa mai sống thực sự như con người thật khó biết bao, đâu phải chỉ để sống còn mà là một sự đeo đưổi cao thượng hơn biết mấy.  Cả Ashbery và Merwin, những nhà thơ đi trước thế hệ những nhà thơ viết về tự ngã hiện thời, mang đặc điểm chuyên viết những độc thoại tách rời hẳn văn cảnh hay câu chuyện kể bên ngoài tự ngã.  Những dòng thơ hiện sinh tác động mạnh vào tâm trí độc giả của Merwin đào sâu tâm lý trong khi cách dùng chữ bất ngờ của Ashbery xuất phát từ những gì con người lưu lại --tâm lý, nông trang, triết học-- hướng đến trường phái Ngôn ngữ.

Những nhà thơ viết về tự ngã gần đây càng đào sâu hơn nữa sự nhận biết có tính chủ quan   về ý thức** xảy ra từng lúc nơi một người.  Đối với Ann Lauterbach (1942- ), bài thơ là sự kéo dài của tâm thức đang hoạt động; bà từng nói thơ của bà là "một hành động xây dựng nên tự ngã, là ngưỡng tự ngã vượt qua để lên tiếng nói."  Nhà thơ ngôn ngữ Lyn Heinian (1941-) diễn tả dòng chuyển biến của ý thức trong bài thơ tự truyện dưới dạng văn xuôi tựa đề Cuộc Đời Tôi/My Life (1987), sử dụng sự chia chẻ, phân ly, những bước nhảy vọt gây ngạc nhiên, và những điểm hội tụ tình cờ: "Tôi hình dung một ý tưởng ngay khi tôi đến với ý tưởng đó, chúng tôi đụng đầu nhau."  Rae Armantrout (1947-) sử dụng sự im lặng và những chùm ý tưởng liên quan nhau tinh tế và không trực tiếp; bài thơ tựa đề cho tập thơ Necromance (1991) cảnh báo "nhấn mạnh/chính xác/ được tiết lộ như là/thù địch."  Một nhà văn thử nghiệm khác, Leslie Scalapino (1947-) sáng tác thơ như "khảo sát tâm tư trong tiến trình nó đang sáng tạo bất kỳ một cái gì đó."

Nhiều thơ thử nghiệm viết về tự ngã rất cô đọng, không nói thẳng, không như kể chuyện, và không có tính khách quan; tuy vậy, thơ này hay nhất khi nó không phải chỉ nói về tự ngã mà nó bay lượn quanh một "điểm trọng tâm không có mặt."  Thi ca về tự ngã thường gắn với việc diễn đọc trước công chúng.  Trong trường hợp các nữ thi sĩ, việc xóa nhoà, ý niệm im lặng, và sự phân cách thưường đi liền với ulia Kristeva và những nhà lý thuyết khác người Pháp ủng hộ nữ quyền.  Nhà thơ Susan Howe (1937-), người phát triển nghệ thuật làm thơ hình ảnh phức tạp đan kết yếu tố lịch sử với yếu tố cá nhân, ghi nhận rất khó truy tìm dòng họ của phụ nữ trong thư khố và phả hệ, và có sự xóa nhoà người phụ nữ trong lịch sử văn hóa.  Đối với bà, trong cương vị một phụ nữ, "những khoảng trống và sự im lặng là nơi bạn tìm thấy mình."

Jorie Graham (1950-)

Một trong số những nhà thơ viết về cái tôi chủ quan thành công nhất là Jorie Graham.  Sinh tại New York và lớn lên ở Ý, bà học tại Sorbonne, Pháp, đại học New York (chuyên ngành phim, điều này ảnh hưởng nhiều đến tác phẩm của bà) và dự khoá dành cho Các Văn Nghệ Sĩ Iowa, rồi dạy lại tại đấy. Sau đó bà trở thành giáo sư tại Harvard.

Thi phẩm của Graham đượm đầy những điều nói về các giống dân trên khắp thế giới, và bà xem lịch sử Mỹ như một phần nằm trong mối liên hệ gắn bó với quốc tế rộng lớn hơn qua thời gian dài.  Bài thơ dùng làm tựa đề cho tập thơ được giải thưởng Pulitzer của bà Giấc Mơ về Trường Quy Nhất: Thơ Chọn Lọc từ năm 1974 đến năm 1994 (1995) nói về lịch sử thay đổi và phức tạp này.  Bài thơ nối kết  lại những yếu tố khác nhau qua cách liên kết tư tưởng tự do phóng khóang --nhà thơ đi bộ qua những mảng tuyết trắng trong cơn bão tuyết để trả lại cho người bạn bộ áo quần bó sát người dành cho vũ công mặc khi biểu diễn, một bầy chim sáo (giống chim đã lấn chỗ các loài chim bản địa), một chú quạ đen đơn độc (nhân vật chíng trong truyện kể của người bản xứ da đỏ ở Mỹ) gợi lên  như "một vết mực trên cảnh chiều tà rợp ánh tuyết trắng." 

Những ấn tượng tác động lên giác quan này vực dậy ký ức thời thơ ấu của nhà thơ về Âu châu, về người dạy múa mặc y phục đen, và trải rộng ra đến lịch sử Tân thế giới.  Thi sĩ đã tả lại việc Christopher Columbus tiếp xúc với người bản xứ da đỏ trên bờ cát trắng như trận bão tuyết trắng xóa mà bà băng qua: "Ông nghĩ ông nhìn thấy người da đỏ bỏ chạy qua vùng tuyết trắng trước con tàu," và "Trong cơn lốc tuyết trắng xóa, ông dựng lên một cây thánh giá thật lớn."

Tất cả những yếu tố này đều thứ yếu đối với tâm thức đang lưu chuyển chứa đựng chúng và không ngừng tự đặt câu hỏi cho chính nó.  Tâm thức này, hay là "trường quy nhất" (một loạt các lý thuyết trong ngành vật lý cố tìm cách liên kết lại tất cả những lực có trong vũ trụ) được mô tả giống như cơn bão tuyết của thuở ban đầu:

Không có gì tự nó đúng hay sai.  Chỉ là chuyển động.  Nhiều dải chuyển động.  Những sợi tơ rơi rơi dấu vết thực của những hoa tuyết tí hon. 

Graham tập trung vào tâm thức như một cửa ngõ của nghĩa lý và ma mị, cả hai đều là một phần của thế giới và là một cái nhìn riêng biệt.  Như một cuốn phim gồm nhiều thước phim gộp lại, tiếng nói của bà đã nối kết lại những cái nhìn và kinh nghiệm khác nhau.  Một Bầy/Swarm  (2000) đào sâu thêm thiên hướng siêu hình, chiều sâu xúc cảm và sự thôi thúc mạnh mẽ của Graham.  

-----

* https://owlcation.com/humanities/Analysis-of-Poem-Soonest-mended-by-John-Ashbery

Analysis of Poem 'Soonest Mended' by John Ashbery

Andrew Spacey Mar 18, 2021 

 **

phenomenology is the study of “phenomena”: appearances of things as they appear in our experience, or the ways we experience things, thus the meanings things have in our experience. Phenomenology studies conscious experience as experienced from the subjective or first person point of view.


Monday, April 26, 2021

Chương IX Thi Ca Mỹ Đương Đại --Phần 1

Từ năm 1990 thi ca Mỹ đã vực dậy với muôn màu muôn vẻ như kính vạn hoa.  Nửa sau thế kỷ 20 địa hạt thi ca đã định hình rõ rệt, nếu không nói là có sự đồng bộ, trọn vẹn với những vị thế kiên cố vững chắc.  Các trường phái thơ được định danh rõ ràng đã thống trị thi đàn, và các cuộc thảo luận phê bình đều mang tính song phương: theo thi pháp hoặc theo thể tự do, kinh viện/bác học hoặc thử nghiệm.

Nhìn lại, một số xem những năm sau thế chiến thứ hai là thời đại anh hùng khi ấy thi ca Mỹ vượt ra khỏi các bó thúc như âm vận, tiết điệu, mà lao vào những đường hướng mới mẻ cùng với cách diễn đạt trừu tượng như trong hội họa Hoa kỳ.  Một số khác, bao gồm những nhà thơ thử nghiệm, tác giả trên toàn cầu hoặc thuộc nhiểu sắc dân, và trong số ấy có cả những nhà văn nữ, vẫn còn nhớ thời ấy còn mù tịt trước các vấn đề chủng tộc và giới tính.  Các tác giả này trải nghiệm đa chủng đa văn hóa như một ân sủng của thời kỳ hiện tại và mong mỏi có các quyền tự do nhưng họ chưa hình dung ra tự do như thế nào.  Các đóng góp của họ khiến thi ca đương đại trở thành một nguồn sáng tác phong phú thực sự dựa vào quần chúng.  

Mối quan tâm đến thi ca trong quần chúng nói chung chưa bao giờ đạt đỉnh cao như thế.  Những chương trình thi đọc thơ* đã tạo ra tình bạn thi thố với nhau giữa các nhà văn mới vào làng văn nghệ, các nhóm viết văn không chuyên nghiệp đóng vai trò hỗ trợ và phê bình, và các câu lạc bộ đọc sách cũng xuất hiện nhiều.  Ngành dạy cách viết văn cho mọi trình độ nở rộ.  Việc trao đổi hay họa thơ tràn lan trên Internet, tại các trường đại học, trên các tạp chí, và các tác giả năng nổ, xông xáo còn cho đăng thơ lên các trang Web.  Thi ca Mỹ hiện nay là một lãnh địa bao la cho tự do tưởng tượng, là nồi nước sôi sục, là một công trình đang tiến triển năng động.

Tính sôi động của thi ca Mỹ từ năm 1990 khiến nó trở thành đa dạng, không tập trung và khó định nghĩa.  Phần lớn các tuyển tập thơ chỉ trình bày một khía cạnh của nền thi ca, chẳng hạn, tác phẩm của các nữ thi sĩ hoặc của các nhóm tác giả sắc tộc thiểu số, hay thơ có chung một chủ đề cảm hứng như thơ jazz, thơ về những người cao bồi chăn bò, thơ chịu ảnh hưởng Phật giáo, thơ hip-hop.**    

 Số ít nhà chủ biên các tuyển tập thơ mong mỏi trình bày toàn bộ nền thi ca đương đại của Mỹ mở đầu với  vô số những lời tuyên bố nhằm tránh các cáo buộc cho tuyển tập thơ và họ dựa vào động lực đặc thù có trong thơ: hậu hiện đại, sự phát triển của các tác phẩm lớn, các nhóm thiểu số và di dân (đặc biệt phải nói đến những tiếng nói mới từ miền Nam, từ Đông Nam Á, và từ Trung đông), buổi bình minh của văn học toàn cầu, tính đa dạng phong phú của những đóng góp của các nữ thi sĩ, sự ra đời của công nghệ Internet, ảnh hưởng của một số giáo sư cụ thể, của các chương trình dạy viết, hay sự thúc đẩy của từng vùng miền, các phương tiện thông tin đại chúng có mặt ở khắp nơi và vai trò của nhà thơ khi cất tiếng nói cá nhân đơn độc của mình phản kháng lại tiếng ồn ào đinh tai nhức óc của xu thế thương mại hóa và hùa theo trào lưu chung.    

Chính các nhà thơ cũng phải vất vả để hiểu được nghĩa lý trong cơn lũ thi ca này.  Có thể hình dung nền thi ca này như một chuỗi gồm một đầu là thi ca của tự ngã cất tiếng nói chủ quan, và đầu kia là thi ca nói về thế giới; giữa hai cực đó là một khoảng lớn trong đó tự ngã và thế giới hòa vào nhau.

Thi ca mang tiếng nói của tự ngã có khuynh hướng tập trung vào cách diễn đạt sinh động và đi sâu khám phá các xúc cảm sâu kín thường bị vùi chôn.  Loại thơ này mang tính tâm lý và mãnh liệt, còn bối cảnh chỉ là thứ yếu.  Nửa sau thế kỷ 20 Robert Lowell là nhà thơ có ảnh hưởng nhất về loại thi ca này.  Chính việc ông đào sâu vào thế giới nội tâm của chính mình và vào nguồn gốc gia đình đầy rối ren của ông đã là nguồn cảm hứng cho loại văn tự thú/confessional writing.***     

Thi ca về thế giới, ngược lại, có khuynh hướng tạo dựng lên ý nghĩa từ diễn biến, tình tiết, và bối cảnh câu chuyện.  Nó dựng lên những màn diễn một cách cẩn thận.  Một trong số những nhà thơ về thế giới có ảnh hưởng nhất là Elizabeth Bishop, người thường được coi la nhà thơ nữ hay nhất của Hoa kỳ vào cuối thế kỷ 20.

Robert Lowell và Elizabeth Bishop là bạn lâu năm với nhau; cả hai cùng dạy tại đại học Harvard.  Giống như Walt Whitman và Emily Dickinson vào thế kỷ 19, Lowell và Bishop là linh hồn ngự trị xuyên suốt qua nhiều thế hệ thi sĩ về sau.  Mặc dù họ chia xẻ cùng một cái nhìn giống nhau, cách tiếp cận của hai người trái nghịch như hai thái cực.  Thơ khó hiểu, với cách nhìn chủ quan, và đầy uyển ngữ của Lowell gạn lọc ý nghĩa qua cách trình bày cái tôi bằng ngôn ngữ mạnh mẽ; trong khi đó Bishop đem đến cho người đọc thơ bà những phong cảnh đầy chi tiết với phong cách có vẻ như giản dị mộc mạc nhưng không phải thế.  Chỉ khi nào đọc lại, ta mới cảm nhận được sự chính xác và sâu sắc trong thơ của bà.

Phần lớn các nhà thơ nằm lưng chừng giữa hai thái cực này.  Suy cho cùng, các thi phẩm lớn, dù nói về tự ngã hay về thế giới, đều vượt lên trên lằn ranh phân chia này; tự ngã và thế giới trở thành gương soi rọi lẫn nhau.  Dù vậy, nhằm mục đích thảo luận, chúng ta hãy tạm phân chia như vậy.

 -----

*A poetry slam is a competition arts event, in which poets perform spoken word poetry before a live audience and a panel of judges. Culturally, poetry slams are a break with the past image of poetry as an elitist or rigid art form. Wikipedia  

 A poetry slam/Cuộc thi đọc thơ là một cuộc thi thố tài năng nghệ thuật, trong đó các nhà thơ đọc thơ mình trước đám đông khán giả và các giám khảo.  Về mặt văn hóa, các cuộc thi đọc thơ là cách ly khai khỏi hình ảnh quá khứ cho thi ca là một dạng nghệ thuật khắc khe dành cho giới thượng lưu.

**Hip hop poetry is a style of poetry that embraces words and phrasings akin to those of hip hop music lyrics. As with traditional poetry, rhythm and rhyme are important in the hip hop genre, though the styles are significantly different. ... Both art forms use rhythm by arranging words so they form a certain meter. Thơ hip hop là một loại thơ dùng chữ và sắp xếp chữ giống như lời của nhạc hip-hop.  Giống như thơ truyền thống, vần và tiết điệu đều quan trọng trong loại thơ này, mặc dù phong cách khác đi đáng kể.  Cả hai hình thái thơ này đều sử dụng vần bằng cách sắp xếp chữ để hình thành một âm tiết nào đó.

[https://www.owu.edu/news-media/from-our-perspective/is-hip-hop-poetry/

The question is often asked, “Is hip hop poetry?” Answers generally follow a certain pattern. To call hip hop “poetry” is to praise it, to commend it as insightful or artful. To reject hip hop as poetry is to condemn it as shallow or poorly written. On both sides of the debate, then, “poetry” often acts as an honorific term.

A closer examination of the issue, however, suggests a third possibility. Literary history shows that definitions of “poetry” vary across cultures and periods. Forms and themes, which certain cultures and periods regard as essential, are rare in others. No one definition of “poetry” holds true.

Relatively few contemporary poets use patterned rhyme; almost all view rhyme as optional, if not unappealing. In contrast, very few hip hop artists do not rhyme.  Sharpening the distinction, hip hop artists revel in the most audacious rhymes, the cobbling together of diverse material. They favor the particular kinds of rhymes that most contemporary poets specifically avoid.

If the presence of these flamboyant rhymes distinguishes hip hop from contemporary poetry, it also suggests what a consideration of hip hop adds to the study of contemporary poetry. Hip hop’s difference clarifies what is missing. Judged according to contemporary practice, hip hop may not be poetry, but that is what makes it such a powerful model. Hip hop inspires attentive listeners to reconsider the pleasures and opportunities rhyme offers and it inspires a new generation to reintroduce conspicuous patterned rhyme back into our poetry.]

***In literature, confessional writing is a first-person style that is often presented as an ongoing diary or letters, distinguished by revelations of a person's deeper or darker motivations.  Trong văn học văn tự thú là dạng văn viết ở ngôi thứ nhất, được trình bày như nhật ký hay thư tín, đặc biệt ở chỗ nó tiết lộ những động cơ thâm sâu và tối ám của một cá nhân.
****Narrative Drive is what gives a story its forward momentum. It's what hooks the reader on page one and pulls them through the rest of the story.  Hấp lực của một câu chuyện là cái dẫn đưa câu chuyện tiến triển.  Nó chính là cái kéo lôi người đọc từ trang đầu đi xuyên suốt hết cả câu chuyện.