Wednesday, September 16, 2020

Chương VIII: Văn Xuôi Mỹ 1945-1990: Chủ Nghĩa Hiện Thực và Văn Xuôi Thử Nghiệm --Phần 1

Khó có thể nói khái quát về truyện kể trong những thập niên sau đệ nhị thế chiến vì nó rất phong phú, đa dạng.  Nó lại được thổi một luồng sinh khí từ các trào lưu quốc tế như chủ nghĩa hiện sinh của Âu châu, chủ nghĩa hiện thực thần bí của châu Mỹ La tinh, trong khi đó kỷ nguyên điệ̣n tử đã đem lạ̣i cả một ngôi làng toàn cầu cho văn nghệ sĩ.  Những từ ngữ được nói trên màn hình TV đem lại sự sống mới cho truyền thống truyền khẩu.  Các thể loại truyện kể bằng ngôn ngữ nói (truyền khẩu), truyền thông và văn hóa quần chúng ngày càng à̉nh hưởng truyện kể.
Trong quá khứ văn hóa của tầng lớp thượ̣ng lưu ảnh hưởng văn hóa quần chúng qua vị thế và vai trò gương mẫu của nó; trong những năm sau chiến tranh ở Mỹ mọi việc chừng như xảy ra ngược lại.  Những nhà văn nghiêm túc như Thomas Pynchon, Joyce Carol Oates, Kurt Vonnegut, Jr., Alice Walker, va E.L. Doctoro vay mượnn và bình giải các tranh biếm họa, phim ảnh, thời trang, ca nhạc và lịch sử truyền khầu.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta coi thường nền văn học này: Các nhà văn Mỹ đều đặt vấn đề rất nghiêm túc, nhiều vấn đề mang tính siêu hình.  Nhà văn trở nên có ý tưởng rất mới lạ, tự ý thức và suy niệm về mình.  Họ thường cho khuôn mẫu truyền thống không còn hữu hiệu nữa và đi tìm sức sống từ chất liệu được quần chúng yêu thích rộng rãi.  Nói khác đi các nhà văn Mỹ trong những thập niên sau thế chiến đã phát triển một xúc cảm hậu hiện đại.  Việc tái cấu trúc quan điểm của các nhà văn hiện đại không đủ cho họ viết; nói đúng hơn, bối cảnh cho cách nhìn ̣(quan điểm) phải được cách tân.
Di Sản Hiện Thực và Những Năm Cuối Thập Niên 1940
Giống như hồi nửa đầu thế kỷ 20, tiểu thuyết nửa sau thế kỷ phản ảnh tính cách của mỗi thập niên.  Những năm cuối thập niên 1940 đã chứng kiến hậu quả của Thế chiến thứ hai và sự khởi đầu của Chiến tranh lạnh.
Thế chiến thứ hai cho nhà văn chất liệu chính để sáng tác: Norman Mailer (The Naked and the Dead,1948) và James Jones (From Here to Eternity, 1951), là hai nhà văn đã sử dụng chất liệu ấy hay nhất.  Cả hai đều dùng ngòi bút hiện thực rất gần với chủ nghĩa tự nhiên tăm tối; cả hai đều  cố gắng hết sức không ca ngợi chuyện bắn giết nơi chiến trường.  Điều này cũng đúng với tiểu thuyết Những Con Sư Tử Nhỏ/The Young Lions (1948) của Irwin Shaw. Herman Wouk, trong tác phẩm Vụ Nổi Loạn Trên Tàu Caine/ The Caine Mutiny (1951) cho thấy sai lầm của con ngườoi đều lộ rõ cả trong thời chiến lẫn trong đời sống dân sự.
Về sau Joseph Heller đã mô tả Thế chiến thứ hai bằng ngôn ngữ châm biếm và kỳ quặc qua tác phẩm Tiến Thoái Lưỡng Nan/Catch-22 (1961), nhuốm vẻ điên loạn.  Thomas Pynchon trình bày một trường hợp bí hiểm thật hay, qua cách nhạ́i lạ̣i và thay thế những cách trình bày thực tại khác (Cầu Vồng Của Trọng Lực/Gravity’s Rainbow,1973). Kurt Vonnegut,Jr. trở thành một trong những ánh đèn sáng chói của phái chống đối lại văn hóa đương thời suốt những năm đầu thập niên 1970, khi ông cho xuất bản tác phẩm Lò Sát Sinh Số Năm/Slaughterhouse-Five còn gọi là Cuộc Thập Tự Chinh Củả Trẻ Em/The Children’s Crusade (1969), một tác phẩm chống chiến tranh, nói về cuộc dội bom thành phố Dresden ở Đức, do lực lượng không quân Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai (mà Vonnegut đã nhìn thấy từ dưới đất khi bị bắt làm tù binh chiến tranh).
Những năm 1940 đã chứng kiến sự ra đời của một nhóm nhà văn mới, gồm nhà viết nghị luận kiêm văn và thơ Robert Penn Warren, nhà soạn kịch Arthur Miller, Lillian Hellman, và Tennessee Williams, các nhà văn viết truyện ngắn như Katherine Anne Porter, Eudora Welty. Ngoại trừ Miller ra, họ đều là người miền Nam.  Những nhà văn này đi sâu tìm hiểu thân phận cá nhân trong gia đình và cộng đồng, và họ chủ yếu nói lên sự quân bình giữa phát triển cá nhân và trách nhiệm cá nhân đối với tập thể của mình.
Robert Penn Warren (1905-1989)
Robert Penn Warren, một nhà văn thuộc nhóm Fugitives miền Nam, đã có một đời cầm bút sung mãn trải qua phần lớn thế kỷ 20.  Suốt đời ông quan tâm đến các giá trị dân chủ thể hiện qua bối cảnh lich sử.  Tác phẩm có ảnh hưởng lâu dài của ông là Tất Cả Những Người Đàn Ông Của Nhà Vua/ All the King’s Men (1946), tập trung nói một cách kín đáo mặt trái đen tối của giấc mơ Mỹ qua câu chuyện về sự nghiệp hào nhoáng nhưng nham hiểm của một chính khách tên Huey Long.
Arthur Miller (1915-2005)  
Nhà soạn kịch Arthur Miller sinh tại New York đạt đến đỉnh cao danh vọng với vở Cái Chết Của Người Bán Hàng/Death of a Salesman vào năm 1949, một vở kịch nói về một người đàn ông đi tìm kiếm sự thành công và giá trị đời sống, nhưng chỉ thấy thất bại luôn xảy đến cho mình. với bối cảnh là gia đình của nhân vật có tên được nói đến trong tựa truyện Willy Loman, vở kịch dựa trên mối quan hệ cha con, vợ chồng. Vở kịch là tấm gương phản ảnh thái độ của nhà văn trong những năm 1940, là sự kết hợp phong phú giữa chủ nghĩa hiện thực pha lẫn chủ nghĩa tự nhiên, với những nhân vật được xây dựng kỹ lưỡng và toàn vẹn, nhấn mạnh giá trị cá nhân dù cá nhân ấy có thất bại hay lầm lỗi.  Vở Cái Chết Của Người Bán Hàng/Death of a Salesman là một bản nhạc ca ngợi người thường dân mà nói như người vợ góa của Willy Loman trong lời ai điếu, chúng ta "phải lưu tâm."  Buồn bã và u ám, vở kịch cũng là một câu chuyện về những ước mơ.  Như một nhân vật đã nói một cách mỉa mai: " Một người bán hàng phải biết ước mơ, cậu bé ạ.  Ứơc mơ vốn đi liền với mảnh đất này mà."
Cái Chết Của Người Bán Hàng/Death of a Salesman, một vở kịch lớn, chỉ là một trong số nhiều vở kịch Miller viết qua nhiều thập niên, bao gồm các vở Tất Cả Những Người Con Của Tôi/All My Sons (1947) và vở Vụ Xét Xử /The Crucible (1953).*  Cả hai đều mang tính chính trị.  Một vở lấy bối cảnh đương thời, vở kia có bối cảnh là thời Mỹ còn là thuộc địa của Anh.  Vở đầu nói về một nhà sản xuất dù biết vẫn cho phép chuyển những bộ phận đã sản xuất có lỗi đến các nhà máy chế tạo máy bay dùng trong Thế chiến thứ hai, hậu quả là cái chết của nhiều phi công Mỹ.  Vở Vụ Xét Xử /The Crucible tả lại các lần xử tội phù thủy ở Salem (Massachusetts) vào thế kỷ 17 qua đó những người dân đến Mỹ định cư theo Thanh giáo bị xử tội chết oan uổng chỉ vì người ta gán cho họ tội là phù thủy.  Dù vậy, vở kịch mang một thông điệp--đó là những vụ "săn lùng phù thủy" nhằm vào những người dân vô tội quả là một lời nguyền rủa ở một xứ dân chủ-- và điều đó vẫn còn đúng trong thời đại vở kịch được đưa lên sân khấu, tức là vào đầu những năm 1950, khi có vụ thanh trừng chống cộng sản do thượng nghị sĩ Mỹ  Joseph McCarthy và những người khác cầm đầu đã phá hại đời sống của những người dân vô tội.  Một phần để đáp trả lại vở kịch Phán Xét /The Crucible, năm 1956 Miller bị gọi ra điều trần trước Ủy ban Đặc Trách Về Các Hoạt Động Phi Hoa Kỳ, và bị yêu cầu phải cung cấp tên những cảm tình viên với cộng sản.  Vì Miller từ chối không chịu đưa ra danh sách đó, ông bị kết tội khinh thường Quốc hội; khi ông khiếu nại, án đó bị hủy bỏ.  Một vở kịch về sau của Miller, vở Sự Cố Ở Vichy/Incident at Vichy (1964) nói về vụ hủy diệt người Do Thái ở Âu châu do Đức Quốc Xã và đồng lõa gây ra. Trong vở Cái Giá Phải Trả/The Price (1968) hai anh em cố chiến đấu để thoát khỏi gánh nặng của quá khứ.  Các vở kịch khác của Miller gồm hai vở kịch một màn tựa đề Danh Vong/Fame (1970) và Lý Do Vì Sao/The Reason Why (1970).  Những bài nghị luận của ông được đăng trong tập Những Tiếng Vọng Từ Hành Lang/Echoes Down the Corridor (2000); quyển tự truyện tựa đề Thời Gian Bóp Méo : Một Cuộc Đời/Timebends**: A Life ra đời năm 1987.

----
*
 
** 




Chương VII --Thi Ca Mỹ Thời Kỳ 1945-1990: Chống Lại Truyền Thống --Trường Phái Ngôn Ngữ, Thí Nghiệm, và Dạng Thức Mới

Trường Phái Ngôn Ngữ, Thí Nghiệm, và Dạng Thức Mới
Vào cuối thế kỷ 20 các hướng đi trong thi ca Mỹ bao gồm các Nhà Thơ Ngôn Ngữ liên hệ ít nhiều với tạp chí Temblor và Douglas Messerli, chủ biên tác phẩm Tuyển Tập Thơ "Ngôn Ngữ" (1987)Các nhà thơ này gồm: Bruce Andrews, Lyn Hejinian, Bob Perelman và Barrett Watten, tác giả quyển Cú Pháp Tổng Thể (1985), với các bài nghị luận.  Những nhà thơ này mở rộng ngôn ngữ  để bộc lộ tiềm năng của nó về cách diễn đạt khó hiểu, chia chẻ, và tự khẳng định trong sự hỗn loạn.  Mang tính mỉa mai và hậu hiện đại, họ phản đối lối "truyện kể về truyện kể"/metanarrative --ý thức hệ, giáo điều, ước lệ--và hoài nghi sự tồn tại của một thực tại siêu nghiệm.  Michael Palmer viết:

Đây là Thiên đường, một quyển sách mốc meo
Bị bỏ xó quá lâu trong nhà

Bài thơ "Ý Nghĩa Trầm Kha" (1983) của Bob Perelman bắt đầu thế này:

Vấn đề là sự kiện duy nhất.
Năm chữ cũng đủ để nói.
Bầu trời đen về đêm, thật hợp lý
Tôi, chút dư tàn phi lý...

Xem nghệ thuật và phê bình văn học tự nó mang nặng tính ý thức hệ, họ chống lại các dạng thức khép kín của chủ nghĩa hiện đại, chống lại đẳng cấp, sự hiển linh và ý tưởng siêu nghiệm, phân loại các hình thái văn học, văn bản kinh điển hoặc tác phẩm văn học được chấp nhận.  Thay vào đó, họ đề nghị các hình tái văn học mở và văn bản đa văn hóa.  Họ dung hợp hóa các hình ảnh thuộc văn hóa đại chúng và truyền thông và biến chúng thành kiểu mẫu.  Giống như thơ trình diễn, thơ ngôn ngữ thường chống lại việc diễn giải thơ và mời khán giả tham dự.
Thơ có khuynh hướng trình diễn/performance poetry --gồm những hoạt động thao tác ngẫu nhiên giống như kiểu thơ của tác giả John Cage, chơi jazz ngẫu hứng, trộn lẫn những hoạt động truyền thông, và chủ nghĩa siêu thực Âu châu-- đã ảnh hưởng nhiều nhà thơ Mỹ.  Trong số những tác giả được nhiều người biết đến có Laurie Anderson (1947-), tác giả quyển Nước Mỹ (1984), trong đó nhà thơ dùng phim, viedeo, ân thanh và âm nhạc, múa, và kỹ thuật của thời đại không gian.  Thơ âm thanh, nhấn mạnh giọng đọc và nhạc cụ, được các nhà thơ như David Antin (người biểu diễn ngẫu hứng thơ của mình) và các nhà thơ New York gồm George Quasha (chủ nhà xuất bản Station Hill Press), cố thi sĩ Armand Schwerner, và Jackson Mac Low.  Mac Low cũng từng viết loại thơ tạo hình hoặc thơ cụ thể, tức loại thơ có câu thơ tạo hình dùng cách sắp xếp chữ.
Thơ trình diễn/performance poetry của các sắc dân đi vào văn hóa chính thống cùng với nhạc rap trong khi trên toàn nước Mỹ trong suốt thập niên vừa qua, hình thái đọc và thưởng thức đánh giá thơ nơi công cộng /poetry slam --các cuộc thi đọc thơ tổ chức ở những phòng tranh nghiệp dư và quán sách văn-- đã trở thành cách tiêu khiển không tốn kém, vui tươi, lôi cuốn người tham gia.
Ngược lại nhóm này về mặt lý thuyết là những nhà thơ phái Dạng Thức Mới theo phong thái riêng của mình, chủ xướng trở về hình thái/form, âm thức/rhyme và tiết điệu/meter của thơ.  Các nhóm thi sĩ đều nhắm trả lời cùng một vấn đề --tính hài lòng tự mãn bình dân với hiện trạng, quá cẩn thận và tô bóng về âm thanh, thường là sản phẩm của các nhóm nhỏ học sáng tác thơ, quá nhấn mạnh về tình cảm riêng thay vì nói lên phản ứng công luận.
Phái Hình Thái có liên quan gắn bó với Nhà Xuất bản Story Line; Dana Gioia, một nhà thơ trở thành Chủ tịch Quỹ Kế Thừa Nghệ Thuật vào năm 2003; Philip Dacey và David Jauss, là những nhà thơ và chủ biên quyển Những Phương Cách Mạnh Mẽ: Thơ Mỹ Hiện Đại Theo Dạng Thức Truyền Thống/Strong Measures: Contemporary American Poetry in Traditional Forms (1986); Brad Leithauser; và Gjertrud Schnackenberg.  Hướng Đi Của Thi Ca: Tuyển Tập Văn Vần Có Âm Thức và Tiết Điệu Viết Bằng Tiếng Anh Kể Từ Năm 1975/An Anthology of Rhymed and Metered Verse Written in the English Language Since 1975 do tác giả Robert Richman biên soạn là hợp tuyển năm 1988.  Mặc dù những nhà thơ này bị lên án là đã quay về các chủ đề của thế kỷ 19, họ thường dùng cách nhìn và hình ảnh đương thời cùng với ngôn ngữ âm nhạc và các hình thái truyền thống theo quy củ*.
----- 

*Có hai hình thái thơ: hình thái "đóng"/"closed" (theo quy củ, khuôn mẫu cố định) gồm các bài thơ theo đúng số câu/lines, âm thức/rhyme, tiết điệu/meter, và khổ thơ/stanza; và hình thái "mở"/"open," gồm thơ ngẫu hứng/chance poetry, thơ Siêu thực/Surrealism, và thơ tự do/free verse, thử nghiệm nhiều thi thuật không theo truyền thống, tận dụng mọi khả năng có thể có của ngôn từ.

https://www.bbc.co.uk/bitesize/topics/zmbj382/articles/zhyp47h

https://www.poetrysoup.com/poems/chance

Thơ ngẫu hứng/chance poetry có thể dựa trên một văn bản gốc nào đó, rồi diễn bày cảm nghĩ theo ý muốn và tâm tư của nhà thơ qua cú pháp và hình ảnh lạ lùng, khác thường 




Thursday, May 28, 2020

Chương VII --Thi Ca Mỹ Thời Kỳ 1945-1990: Chống Lại Truyền Thống -- Các Nhà Thơ Nhóm Thiểu Số: Thơ Của Người Mỹ Da Đen

Người Mỹ da đen đã sáng tác những bài thơ tuyệt vời về nhiều chủ đề với vần điệu rất đa dạng. Văn học của người da đen là dòng văn học sắc tộc phát triển mạnh nhất ở Mỹ, và nó hết sức phong phú.  Amiri Baraka (1934- ), nhà thơ người Mỹ da đen nổi tiếng nhất trong thập niên 1960-1970, từng soạn kịch và đóng vai trò tích cực trên chính trường.  Các tác phẩm của Maya Angelou (1928- )* gồm nhiều thể loại như thơ, kịch, và quyển hồi ký nổi tiếng Tôi Biết Vì Sao Con Chim Bị Nhốt Trong Lồng Cất Tiếng Hót/I Know Why The Caged Bird Sings (1969).
Rita Dove (1952- ) là nhà thơ Mỹ được vinh danh vào những năm 1993-1995.  Dove cũng viết tiểu thuyết và soạn kịch và được trao giải Pulitzer Prize năm 1987 với thi phẩm Thomas vàn Beulah/Thomas and Beulah (1986), qua đó bà ca ngợi ông bà của mình bằng những bài thơ dạt dào tình cảm.  Bà nói bà viết thi phẩm đó để diễn tả đời sống nội âam phong phú của người nghèo.
Tương tự, Michael S. Harper (1938- ) từng sáng tác những bài thơ diễn tả đời sống phức tạp của những người Mỹ da đen khi phải đối đầu với nạn kỳ thị và bạo hành.  Những bài thơ đầy ẩn ý và khó hiểu của ông thường nói về các cảnh tượng dữ dội và chen chúc trong chiến tranh hay nơi đời sống thị thành.  Qua các bài thơ ấy ông dùng ngòi bút mổ xẻ hình ảnh nhằm mục đích hàn gắn lại vết thương.  Bài thơ  “Cuộc Họp Của Những Người Cùng Bộ Tộc: Sinh Ra Đời và Các Quốc Gia: Bài Ca Huyết Thống”/“Clan Meeting: Births and Nations: A Blood Song”** (1971), một bài thơ đã ví việc nấu ăn với một cuộc giải phẩu, bắt đầu với câu “chúng ta dựng lại các mảnh đời trong khu chăm sóc/ đặc biệt, sắp lại các thứ trên bàn thức ăn buffet”/“we reconstruct lives in the intensive /care unit, pieced together in a buffet.”  Bài thơ kết thúc bằng cách nối kết lại những hình ảnh về bệnh viện, về nạn phân biệt chủng tộc trong cuộn phim Mỹ đầu tiên tựa đề Sự Ra Đời Của Một Quốc Gia, nhóm Ku Klux Klan, sử dụng kỹ thuật duyệt phim và quang tuyến X:

Chúng ta nạp vào bộ não của mình như nạp cuộn film vào máy chụp hình,
phim đã bị phơi bày ra
dưới ánh sáng quang tuyến X nhiều quá,
khóa kín lại với cánh cửa có hai lớp
dùng làm thước đo ánh sáng: màu da và giới tính
cuộn tròn và ép lại làm thú tiêu khiển;
chúng ta lấy gói đồ và đi
về nhà.

We reload our brains as the
cameras,
the film overexposed
in the x-ray light,
locked with our double door
light meters: race and sex
spooled and rung in a hobby;
we take our bundle and go
home.

Lịch sử, nhạc jazz, và văn hóa quần chúng đã gợi hứng cho nhiều người Mỹ đã đến từ Harper (một giáo sư đại học) đến nhà thơ và nhà xuất bản Ishmael Reed (1938- ) ở bờ biển miền tây, được xem là các tác giả đầu đàn về sáng tác đa văn hóa qua Before Columbus Foundation, và qua một số các tạp chí như Yardbird, Quilt, và Konch.
Nhiều nhà thơ Mỹ da đen, như Audre Lorde (1934-1992), đã tìm ra chất liệu để sáng tác từ cách tiếp cận lịch sử quan tâm nhiều đến người Phi châu Afrocentrism,*** một phong trào xem Phi châu là trung tâm văn minh từ thời cổ đại.  Trong bài thơ "Những Người Phụ Nữ Xứ Dan Nhảy Múa Với Gươm Trong Tay Để Đánh Dấu Thời Họ Từng Là Chiến Sĩ"/“The Women of Dan Dance With Swords in Their Hands To Mark the Time When They Were Warriors” (1978), bà nói lên tiếng nói của người nữ chiến sĩ ở xứ Dahomey cổ đại "được võ trang với mọi thứ tôi chạm đến" và "tiêu thụ" chỉ "Những gì đã chết."
--------
*tên khai sinh là Marguerite Annie Johnson (tháng 4, 1928 – ngày 28 tháng 5, 2014)
born Marguerite Annie Johnson (April 4, 1928 – May 28, 2014)
một cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử chú trọ̣ng đến lịch sử của những người có gốc gác từ Phi châu.  Đây là cách đáp trả lại thái độ toàn cầu (nhấn mạnh về người Âu châu/Eurocentric) về người Phi châu và những đóng góp lịch sử của họ, nhằm tìm cách sửa lại các lỗi lầm cứ tiếp diễn mãi do nền tảng triết học kỳ thị của các ngành học thuật Tây phương được phát triển trong thời kỳ Phục hưng ban đầu của Âu châu và kể từ đó trở về sau làm cơ sở lý giải cho việc nô lệ hóa các dân tộc khác, và cách tiếp cận này còn nhằm mục đích cho phép kể lại chính xác hơn sự đóng góp không chỉ của người Phi châu mà còn của các dân tộc khác vào lịch sử thế giới
an approach to the study of world history that focuses on the history of people of recent African descent.[1] It is in some respects a response to global (Eurocentric) attitudes about African people and their historical contributions; it seeks to correct what it sees as mistakes and ideas perpetuated by the racist philosophical underpinnings of western academic disciplines as they developed during and since Europe's Early Renaissance as justifying rationales for the enslavement of other peoples, in order to enable more accurate accounts of not only African but all people's contributions to world history.
**** Dahomey từng là một vương quốc Phi châu nằm ở vùng đất ngày nay là xứ Cộng hòa Benin, vương quốc này tồn tại từ năm 1600 cho đến năm 1900.  Dahomey phát triển trên cao nguyên Abomey vào những năm đầu 1600, và là một cường quốc trong vùng mãi đến năm 1900 bằng cách chinh phục những thàng phố quan yếu trên bờ biển Đại tây dương.
Dahomey was an African kingdom in the present-day Republic of Benin which lasted from 1600 until 1900. Dahomey developed on the Abomey Plateau in the early 1600s and became a regional power in the 1700s by conquering key cities on the Atlantic coast.

(Còn tiếp)
 

Wednesday, May 27, 2020

Chương VII --Thi Ca Mỹ Thời Kỳ 1945-1990: Chống Lại Truyền Thống -- Thi Sĩ Thuộc Các Sắc Dân Thiểu Số

Hậ̣u bán thế kỷ 20 chứng kiến sự phục hồi của văn học thuộc các tác giả thiểu số, và tiếp diễn qua cả thế kỷ 21.  Vào những thập niên 1960, theo bước những người Mỹ da đen, các tác giả thiểu số ở Mỹ bắt đầu làm độc giả phải chú ý đến họ.  Vào những năm 1970 ở các trường đại học bắt đầu có những môn học về các nhóm dân thiểu số.
Sang những năm 1980 các tạp chí nghiên cứu, tổ chức chuyên nghiệp, và tạp chí văn học chuyên về các tác giả thiểu số ra đời.  Các hội nghị chuyên đề về những tác phẩm văn học thiểu số cụ thể xuất hiện, và tiêu chuẩn về "tác phẩ̉m lớn/kinh điển" (classics) đã mở rộng, bao gồm cả các tác giả thiểu số có tên trong các văn tuyển và danh sách tác phẩm được chọn đưa vào trường học.  Các chủ đề quan tṛong gồm chủng tộc, các sắc dân khác nhau, đời sống tâm linh, vai trò của gia đình và của nam nữ, và ngôn ngữ.
Thơ của các tác giả thiểu số giống các tác phẩm của những nữ thi sĩ ở chỗ đa dạng và thỉnh thoảng bày tỏ sự phẫn nộ.  Thơ nở rộ qua tác phẩm của những nhà thơ Mỹ gốc Nam Mỹ hoặc Mễ Tây Cơ như Gary Soto, Alberto Rios, và Lorna Dee Cervantes; gốc người da đỏ như Leslie Marmon Silko, Simon Ortiz, và Louise Erdrich; gốc Phi châu như Amiri Baraka (Le Roi Jones), Michael S. Harper, Rita Dove, Maya Angelou, và Nikki Giovanni; gốc Á châu như Cathy Song, Lawson Inada, và Janice Mirikitani.
Thơ Của Các Tác Giả Gốc Mễ Tây Cơ và Nam Mỹ  
Thơ mang ảnh hưởng Tây Ban Nha bao gồm tác phẩm của nhiều nhóm thi sĩ khác nhau.  Trong số này có những tác giả là người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ, được xem là người Chicano từ những năm 1950, và đã sống qua nhiều thế hệ ở những tiểu bang miền Tây Nam nước Mỹ, cạ̣nh Mễ Tây Cơ khi cuộc chiến giữa Mễ và Mỹ kết thúc năm 1848.
Trong số những người gốc Tây Ban Nha sống ở quần đảo Carribean, người Mỹ gốc Cuba và người Puerto Rico vẫn tiếp tục duy trì các truyền thống văn học quan yếu và nổi bật của họ.  Thí dụ, tài năng thiên phú về hài kịch của người Mỹ gốc Cuba khác hẳn thơ ai điếu giàu xúc cảm của các tác giả Chicano như Rudolfo Anaya.  Những người mới nhập cư từ Mễ Tây Cơ, Nam Mỹ hay Trung Mỹ, và từ Tây Ban Nha thường góp phần làm phong phú thêm dòng văn học này.
Thơ của người Chicano, tức là người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ, vốn có truyền thống đọc ngâm (oral) phong phú với dạng thơ corrido, tức ballad.  Các tác phẩm tiên phong đều nói đến sức mạ̣nh truyền thống của cộng đồng Mễ, và sự kỳ thị của nguoi da trắng mà đôi khi họ gặp phải.  Thỉnh thoảng  các nhà thơ này pha trộn tiếng Tây Ban Nha với tiếng Anh thành vần điệu như trong thơ của Alurista và Gloria Anzaldúa.  Thơ của họ chịu ảnh hưởng của truyền thống đọc ngâm nhiều, và khi được đọc lên thơ của họ tác động rất mạnh.
Một số tác giả làm thơ bằng tiếng Tây Ban Nha theo truyền thống vốn có từ trường ca đầu tiên của mảnh đất ngày này là nước Mỹ — tác phẩm Lịch Sử Nước Mễ Tây Cơ Mới /Historia de la Nueva México của Gaspar Pérez de Villagrá kỷ niệm lại cuộc chiến năm 1598 tại Acoma, New Mexico, giữa người Tây Ban Nha và người da đỏ Pueblo.
Văn bản thơ trọ̣ng tâm của thi ca Chicano, tác phẩm Tôi là Joaqin/I Am Joaquin của Rodolfo Gonzales (1928-2005), nói lên vấn đề giao thoa văn hóa: nhân vật trong bài thơ bị "Lạc trong một thế giới hỗn độn/Bị cuốn vào cơn lốc của xã hội người da trắng/Đầu óc rối mù về các luật lệ..."
“Lost in a world of confusion/Caught up in a whirl of gringo society/Confused by the rules....”

Nhiều tác giả Chicano đã tìm thấy nguồn sống từ cội nguồn Mễ Tây Cơ xa xưa của mình.  Khi nghĩ đến xứ Mễ Tây Cơ hùng vĩ, Lorna Dee Cervantes (1954- ) đã viết "bài trường thi"/ “an epic corrido” *ngân vang trong huyết mạch của mình, trong khi Luis Omar Salinas (1937-) cảm thấy ông là "thiên thần của dân Aztec."**
 ---------

*The Mexican Corrido là một dạng dân nhạc ballad mô tả đặc thù đời sống người Mễ Tây Cơ trong hơn một thế kỷ.  Nhạc corrido gồm ba loại hoặc ba đặc tính: nhạc trữ tình, trường ca, và nhạc truyện. 


The Mexican Corrido is a form of musical folk ballad that has been a typical expression of Mexican life for well over a century. The corrido encompasses three generic sub-types or qualities: lyric, epic, and narrative.

** Aztec là những người tự xưng mình là Culhua-Mexica, nói tiếng Nahuatl, một giống dân bản địa trị vì một vương quốc lớn ở thung lũng Mễ Tây Cơ, tức miền trung và nam Mễ Tây Cơ ngày nay, vào thế kỷ 15 đầu thế kỷ16.
Aztec, self name Culhua-Mexica, Nahuatl-speaking people who in the 15th and early 16th centuries ruled a large empire in what is now central and southern Mexico. The Aztecs are so called from Aztlán (“White Land”), an allusion to their origins, probably in northern Mexico.
-------

Phần lớn thơ Chicano đều diễn bày những vấn đề riêng tư, nói lên cảm xúc cá nhân hoặc gia đình và các thành viên trong cộng đồng.  Gary Soto (1952-) sáng tác dựa trên truyền thống xưa của người Mễ tôn kính tổ tiên đã quá vãng của họ, những gì ông viết vào năm 1981 lại mô tả tình trạng đa văn hóa của người Mỹ ngày nay: 
Nến đã thắp lên cho người đã khuất
Phía trước tất cả chúng ta là hai thế giới 

Vào thập niên 1980, thơ Chicano đã đạt được một tầm vóc quan trọng mới, và các tác phẩm của Cervantes, Soto, và Alberto Rios đều được phổ biến rộng rãi trong các tuyển tập.

ThơThổ Dân Da Đỏ Mỹ
Thổ dân da đỏ từng sáng tác những bài thơ rất hay, có thể do họ theo truyền thống có các bài hát của thầy bùa chú (shaman), những vị vốn đóng vai trò quan yếu trong di sản văn hóa của họ.  Các tác phẩm này rất tuyệt vời khi cầu xin thiên nhiên một cách sống động, đôi khi biến thiên nhiên gần như huyền diệu thần bí. Các nhà thơ người da đỏ cũng nói lên nỗi bi thương họ phải gánh chịu khi di sản phong phú của họ bị mất đi không thể tìm lại.
Simon Ortiz (1941- ), một người da đỏ thuộc bộ tộc Acoma Pueblo,* đã viết nhiều bài thơ thẳng thắn dựa vào lịch sử, đi sâu tìm hiểu các mâu thuẫn của người dân bản xứ sống trong nước Mỹ ngày nay.  Thơ của ông thách thức người đọc da trắng vì nó thường nhắc họ nhớ đến sự bất công và bạo lực mà họ đã từng dùng đối với thổ dân da đỏ.  Thơ Simon Ortiz nói lên viễn cảnh sống hài hòa giữa các sắc tộc trên cơ sở cảm thông sâu sắc.
Trong bài thơ "Tấm Chăn Bông Hình Những Vì Sao"/“Star Quilt,” Roberta HillWhiteman (1947-), thuộc bộ tộc da đỏ Oneida, tưởng tượng ra một tương lai đa văn hóa giống như "tấm chăn bông đầy hình những vì sao,/được dệt từ ánh sáng bình minh," trong khi Leslie Marmon Silko (1948- ), thuộc bộ tộc Laguna Pueblo, lại sử dụng ngôn ngữ bình dân và các mẫu chuyện truyền thống để dệt nên những vần thơ du dương và lắng đọng trong tâm hồn người đọc.  Qua bài thơ "Trong Ánh Sáng Của Cơn Bão Giá Lạnh"/ “In Cold Storm Light” (1981), Silko đã đạt được âm hưởng như thơ haiku Nhật bản:
 từ bầu trời dầy đặc băng giá
chạy vụt qua
vó chân khua
lượn vòng trên chòm cây
chú tuần lộc xứ tuyết đến
chuyển luân, di động
bài ca trắng
gió bão luồn qua những cành cây

out of the thick ice sky
running swiftly
   pounding
swirling above the treetops
The snow elk come,
Moving, moving
white song
storm wind in the branches

Louise Erdrich (1954- ), cũng là tiểu thuyết gia như Silko, đã sáng tạo ra những đọan độc thoại đầy kịch tính mạnh mẽ, giống nhưng một vở kịch cô đọng. Các tiểu thuyết gia này mô tả không nhân nhượng cảnh các gia đình người da đỏ vật lộn với nạn rượu chè, thất nghiệp và nghèo khó nơi biệt khu Chippewa. Trong bài "Cuộc Hội Ngộ Gia Đình"/ “Family Reunion”(1984) của  Erdrich, một người chú say rượu và tàn ác trở về biệt khu sau nhiều năm sống nơi thành thị.  Vì ông ta mắc bệnh tim, đứa cháu gái bị ông đối xử tàn tệ, và cũng là người kể chuyện, nhớ lại việc chú mình đã giết một con rùa to nhiều năm trước đây, bằng cách nhét viên pháo vào con rùa.  Đoạn cuối bài thơ đã liên hệ Chú Ray với con rùa nạn nhân của ông:

Bằng cách nào đó chúng ta đã tìm ra đường về
Chú Ray hát lại bài hát xưa cho cái xác
đã lôi kéo chú về nhà
đôi tay chú nay như vây cá xám xịt
đóng đinh vít các lóng xương vào tấm bảng gỗ.
Gương mặt chú lộ vẻ nhẫn nhục trầm lặng kỳ lạ
như mặt đứa bé lúc nào cũng chẳng màng để ý đến vết thương,
hay gương mặt của con thú từng sống lâu dưới nước
và các thiên thần đến
giương ná bắn chúng và thải rác rưởi.

Somehow we find our way back,
Uncle Ray
sings an old song to the body
that pulls him
toward home. The gray fins that
his hands have become
screw their bones in the
dashboard. His face
has the odd, calm patience of a
child who has always
let bad wounds alone, or a
creature that has lived
for a long time underwater.
And the angels come
lowering their slings and litters.

---

* Acoma Pueblo là nhóm thổ dân sống cách thành phố Albuquerque, tiểu bang New Mexico khoảng 60 dặm về phía tây.  Làng Acoma Pueblo gồm có bốn cộng đồng da đỏ: Sky City, Acomita, Anzac, và McCartys. Bộ tộc Acoma Pueblo được liên bang nhìn nhận là một bộ tộc riêng.
Acoma Pueblo is a Native American pueblo approximately 60 miles west of Albuquerque, New Mexico in the United States. Four communities make up the village of Acoma Pueblo: Sky City, Acomita, Anzac, and McCartys. The Acoma Pueblo tribe is a federally recognized tribal entity. 
 (Còn tiếp)

Saturday, May 23, 2020

Chương VII --Thi Ca Mỹ Thời Kỳ 1945-1990: Chống Lại Truyền Thống -- Các Nhà Thơ Sắc Dân Thiểu Số: Thơ Của Người Mỹ Gốc Á Châu


Thơ Của Người Mỹ Gốc Á Châu
Giống như thơ của các tác giả Chicano và gốc Mỹ La tinh, thơ của người Mỹ gốc Á cũng cực kỳ đa dạng.  Người Mỹ gốc Nhật, Trung hoa và Phi luật tân có thể đã từng ở Mỹ qua 8 thế hệ, trong khi người Mỹ gốc Đại hàn, Thái lan và Việt nam là những người nhập cư tương đối mới đây hơn.  Mỗi nhóm đều phát triển từ truyền thống ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa riêng biệt.
Dòng văn học của người Mỹ gốc Á châu thường nhấn mạnh nhiều đến vùng bờ biển Thái bình dương* và các sáng tác của phụ nữ. Người Mỹ gốc Á thường phản kháng lại cách nhìn rập khuôn thường có, xem họ là nhóm người "ngoại quốc" và "đàng hoàng."  Các nhà mỹ học thường so sánh những truyền thống văn chương Tây phương với Á đông --thí dụ so sánh khái niệm Đạo/Tao với Lý trí/Logos.
Các nhà thơ Mỹ gốc Á lấy cảm hử́ng từ nhiều nguồn, từ hát bội của Trung hoa đến Phật giáo Thiền tông; các truyền thống văn học Á châu, đặc biệt là Thiền, đã từng gợi cảm hứng cho nhiều nhà thơ không phải gốc Á châu, như chúng ta có thể thấy trong tuyển tập xuất bản năm 1991 tựa đề Dưới Một Vừng Trăng Đơn Lẻ:Phật Giáo Trong Thơ Ca Mỹ Đương Đại/ Beneath a Single Moon: Buddhism in Contemporary American Poetry. 
Những nhà thơ Mỹ gốc Á châu gồm nhiều nhóm: từ chỗ chống lại quy ước như Frank Chin (1940- ), một trong những người chủ biên tập Aiiieeeee! (tuyển tập văn học của các tác giả người Mỹ gốc Á châu ra đời rất sớm) đến những tác giả sử dụng rất nhiều các quy ước truyền thống như Maxine Hong Kingston (1940- ).  Janice Mirikitani (1942- ), một người Mỹ gốc Nhật thế hệ thứ ba (sansei), nói lên lịch sử người Mỹ gốc Nhật, và chủ biên nhiều tuyển tập như Những Người Phụ Nữ Thế Giới Thứ Ba/Third World Women (1973), Đã Đến Lúc Phải Làm Càng! Thần Chú Từ Thế Giới Thứ Ba / Time To Greez! Incantation from the Third World (1975), và Ayumi: Tuyển Tập Văn Học Của Người Mỹ Gốc Nhật/Ayumi: An Anthology of Japanese Americans (1980).
Tập thơ Cô Dâu Trong Bức Ảnh/ Picture Bride của Cathy Song (1955-), người Mỹ gốc Trung hoa, cũng diễn lại lịch sử qua những mảnh đời của người trong gia đình bà.  Nhiều nhà thơ Mỹ gốc Á đi sâu tìm hiểu tình trạng đa văn hóa ở Mỹ.  Trong bài thơ "Không Khí Thực Vật"/“TheVegetable Air” (1988) của Song, một thị trấn nghèo với những chú bò thả rong nơi công cộng, một quán ăn Tàu và tấm biển quảng cáo Coca-Cola treo lệch, biểu trưng cho cuộc sống đa văn hóa mất gốc ngày nay, được nghệ thuật làm cho dễ thở, trong trường hợp này là một bài hát opera chơi trên máy cassette:

rồi bài hát quen thuộc
trỗi lên như mặt trăng
nhấc bạ̣n ra khỏi chính bạn,
đưa bạn đến một xứ sở khác
ở đó, trong một giây phút, bạn thong dong du hành.

then the familiar aria,
rising like the moon
lifts you out of yourself,
transporting you to another country
where, for a moment, you travel light.

---
*
The Pacific Rim nói về vùng bao quanh Thái bình dương.  Nó bao gồm miền duyên hải phía tây Bắc và Nam Mỹ châu, Úc châu, đông Á, và các đảo ở Thái bình dương.  
The Pacific Rim refers to the geographic area surrounding the Pacific Ocean. The Pacific Rim covers the western shores of North America and South America, and the shores of Australia, eastern Asia and the islands of the Pacific.
** 
Logos là từ thường được dùng trong triết học, tâm lý học, tu từ học và trong các tôn giáo Tây phương, có từ căn gốc Hy lạp mang nhiều nghĩa như "nền tảng," lời tuyên bố," "ý kiến," "sự mong đợi," "từ ngữ," "diễn văn," "bài tường thuật," "lý trí," "phần/đoạn," "thảo luận."
Logos is a term in Western philosophy, psychology, rhetoric, and religion derived from a Greek word variously meaning "ground", "plea", "opinion", "expectation", "word", "speech", "account", "reason", "proportion", and "discourse". 
***
 Tác phẩm đoạt giải Thi Tuyển Yale Dành Cho Các Nhà Thơ Trẻ do đại học Yale tổ chức năm 1982 là tập thơ Cô Dâu Trong Hình của Cathy Song, nói về con người và vô số các cuộc hành trình của họ.  Nhà thơ nổi tiếng Richard Hugo nói: "Thơ của cathy Song là những đóa hoa: đủ màu sắc, gợi tình, và trầm lặng, và chúng được e ấp dâng lên như những bó hoa tặng cho những phút giây trong đời tưởng chừng như nhỏ nhoi nhưng, khi hồi tưởng lại, lại là những giây phút quý giá nhất.  Bà thường nhắc nhở cái thế giới cứng ngắc, lạnh lùng, ồn ào về điều thật sự quan yếu cho tinh thần con người." 
The winning volume in the 1982 Yale Series of Younger Poets competition is Cathy Song’s Picture Bride, a book about people and their innumerable journeys. Distinguished poet Richard Hugo says, “Cathy Song’s poems are flowers: colorful, sensual, and quiet, and they are offered almost shyly as bouquets to those moments in life that seemed minor but in retrospect count the most. She often reminds a loud, indifferent, hard world of what truly matters to the human spirit.”

Sinh ra tại Honolulu, Hawaii năm 1955, Cathy Song tốt nghiệp cử nhân B.A. tại đại học Wellesley năm 1977, và nhận bằng cao học văn chương về sáng tác ở đại học Boston năm 1981.  Thơ bà được in trong các văn tuyển các tác giả châu Á Thái bình dương, và trong tập Con Ngựa Đen/Dark Horse, Tập San Cánh Đồng Xanh/The Greenfield Review, và Chi Nhánh Miền Tây/West Branch.  Giải Thi Tuyển Yale Dành Cho Các Nhà Thơ Trẻ cho đến giờ vẫn là giải thơ lớn.  Theo Tạp chí Thư Viện. 

Born in Honolulu, Hawaii, in 1955, Cathy Song received a B.A. from Wellesley College in 1977 and an M.A. in creative writing from Boston University in 1981. Her poems have appeared in an anthology of asian-pacific literature and in Dark Horse, The Greenfield Review, and West Branch.
Born in Honolulu, Hawaii, in 1955, Cathy Song received a B.A. from Wellesley College in 1977 and an M.A. in creative writing from Boston University in 1981. Her poems have appeared in an anthology of asian-pacific literature and in Dark Horse, The Greenfield Review, and West Branch.
"The Yale Series of Younger Poets remains the most prestigious [of poetry contests]."—Library Journal